Tôi vẫn nhớ ngày mới sinh con gái, hôm đó là ngày 28 tháng 5 năm 1975, mới chỉ chưa đầy một tháng sau biến cố lịch sử của đất nước. Tôi sinh cháu trong một nhà hộ sinh tư, nhà bảo sanh Đức Huệ trên đường Cao Thắng.
Mới ngày hôm trước là đám giỗ ông nội tôi, tôi còn làm hề đứng lắc twist để chọc cười cả nhà, ngày đó tôi mới có 23 tuổi, còn con nít lắm, lấy chồng thì có mang rồi đi sinh, chẳng có khái niệm gì nhiều về cuộc sống lứa đôi.
Có lẽ trong cái “sự nghiệp” sinh con của tôi thì mẹ tôi là người vất vả nhất, bà lăng xăng lít xít đi mua sắm đủ thứ, đến nỗi bố tôi phải mắng “bà đừng có mà mua sắm sớm quá không tốt đâu”, sau tôi hỏi ra mới biết bố tôi nghe ai nói mua sắm sớm quá thì có thể bị hư thai. Bố tôi là dân học trường Bưởi, theo Tây học, mà khi yêu quý con cháu quá cũng tin dị đoan luôn, “thôi thì có kiêng có tốt” bố nói vậy.
Ngày lên đường đi sinh, mẹ là người đi cùng, tôi chợt nghĩ tới những bạn bè vô phúc đã mất mẹ, chắc sẽ tủi thân lắm nếu không có mẹ vào giờ phút này. Trước khi đi sinh, mẹ bắt tôi đi gội đầu tắm rửa thật sạch sẽ vì mẹ bảo sau khi sinh phải đến một tháng sau mới được tắm. Bây giờ nghĩ lại chuyện cấm đoán này tôi vẫn còn hãi và vẫn không sao quên được cái cảm giác sung sướng khi lần đầu tiên được tắm trong ngày đầy tháng con.
Khi đã vào phòng sinh thì ông chồng tôi đến, dù đang đau tôi cũng nghe bác sĩ bàn với nhau là em bé nằm ngược và có thể phải mổ lấy ra, ngày ấy thiếu thốn đủ bề siêu âm (ultrasound) cũng không có. Tôi thấy BS hỏi “ai là ông xã của sản phụ”, tôi thấy ông chồng tôi lúc ấy cũng chỉ mới 24 tuổi, len lén giơ tay lên nhận với vẻ mặt rất là xấu hổ. Thế rồi may mắn là tôi là sinh dễ vì xương hông lớn nên dù cháu ra ngược nhưng không cần mổ và chỉ mất có hai tiếng từ lúc đau đẻ cho tới lúc sinh cháu ra. Tôi vẫn nhớ ông bác sĩ dỗ dành tôi như dỗ một đứa trẻ con “ráng đi ráng lên” và khi tôi mệt quá nhắm mắt ngủ, nghĩ bụng “thôi kệ tới đâu thì tới, mệt quá rồi…” thì ông dọa “ấy cô đừng ngủ, cô mà ngủ thì em bé cũng ngủ luôn không sinh được đâu”… lại cố lại cố, nhìn bác sĩ giơ con bé lên cao và phát vào mông cho nó khóc thét lên, những tiếng khóc chào đời bắt đầu một kiếp làm người. Lúc đó tôi cũng chưa thấy yêu thương gì con bé lắm mà chỉ thấy chân tay nó hơi cong queo, có lẽ vì nằm lâu trong bụng, nên cứ sợ cháu bị dị tật gì chăng? Mãi sau biết tất cả đều bình thường tôi mới thấy nhẹ người.
Sau khi sinh, cứ tưởng thế là xong chuyện nhưng không cơn đau bụng vẫn hành hạ tôi dữ dội, gọi bác sĩ thì ông giải thích là “do bà sinh con so nên tử cung co thắt mạnh, càng đau càng tốt, nếu không dễ bị sa tử cung”. Họ cho tôi nằm trên mặt phẳng chẳng có cái gối gối đầu và họ giải thích rằng để tránh nằm dốc xuống dễ bị băng huyết sau sinh. Tôi cứ nằm đó chịu đựng những cơn đau thắt ruột vì bác sĩ từ chối chích thuốc giảm đau, lúc đó mới mang máng hiểu rằng mẹ tôi đã khổ sở ra sao khi sinh đến 4 anh em chúng tôi.
Ban ngày thì cô người làm và mẹ tôi trực, đêm đầu ông chồng tôi vào trực vì bố tôi không muốn mẹ thức đêm hại sức khỏe. Lúc đầu ông ngồi đọc chuyện đọc báo, đến khi nửa đêm em bé khóc ông nằm ngủ như người đã chết. Ngày đó đâu có tã giấy như bây giờ, phải dùng tã may bằng phin nõn, sau đó giặt đi thì mới kịp dùng. Lay mãi không dậy, tôi đành tự lấy tã em bé ra giặt mà lòng thật tủi thân, nhưng biết làm sao được nếu không sẽ không đủ tã quấn con. Ngày hôm sau, ông chồng xin lỗi nhưng mẹ tôi đã quyết định cho ông trực ban ngày còn mẹ sẽ ở lại ban đêm.
Rồi cũng đến ngày đón em bé về nhà, cả nhà quay cuồng đầu tắt mặt tối. Con bé cứ hết chuyện này lại đến chuyện khác, ăn, ngủ, tắm rửa….hầu như làm mãi không hết việc. Chưa bao giờ khung cảnh nhà tôi rộn ràng như thế. Rồi ngày đầy tháng em bé cũng đến, mẹ tôi nấu nướng xôi chè chuẩn bị cúng, bà nội cháu cũng được mời sang tham dự. Tôi không nhớ rõ lý do tại sao nhưng tôi thấy bà nội cháu nướng một cây đinh to cho thật nóng đỏ lên, bỏ vào một thau nước lạnh kêu cái xèo, sau đó cứ thế mà đong đưa con bé qua lại chậu nước hình như để trừ tà ma quỷ quái gì đó thì phải.
Ăn đầy tháng con buổi sáng thì buổi trưa ông bố cắp đồ đi học tập, ông chỉ kịp hôn con từ giã để đi vài tuần nhưng thật ra là 9 năm. Hai cha con dù ruột thịt nhưng sự chia cách đã chẳng mang lại chút gắn bó cho cái tình ruột thịt máu mủ ấy. Sau 9 năm ông bố trở về thì chỉ tháng sau là lại tìm đường vượt biển và thành công, cho nên hai cha con lại càng không có gì lưu luyến nhau.
Vì con bé là đứa cháu đầu tiên trong gia đình nên ông bà ngoại và ông bà nội rất cưng chiều, thời khó khăn bao cấp, bố đi cải tạo, mẹ còn đi học lấy thêm bằng cấp của VC để mong kiếm được việc làm. Con bé chỉ bú sữa hộp vì mẹ gầy gò không sữa, hai bên nội ngoại thay nhau cung cấp sữa cho con bé. Đến khi con bé lớn lên kha khá thì bắt đầu ăn bột, thời ấy đâu có bột dinh dưỡng cho trẻ nhỏ như bây giờ, bé chỉ được ăn bột Bích Chi của bà giáo Thảo gì đó. Trời thương, trong hoàn cảnh khó khăn, con bé hay ăn chóng lớn, dù sốt gần 40 độ nhưng khi nghe tiếng vét chén sành đựng bột ăn, biết là sắp hết là nó khóc thét lên đòi ăn tiếp. Con bé rất phàm ăn, chẳng như con nhà khác phải dỗ đủ kiểu mới ăn, hình như nó hiểu được cái khó khăn của gia đình mà không làm khó người lớn.
Tôi đi học đại học kinh tế của chế độ mới những mong có tấm bằng để bắt đầu làm lại cuộc đời, bằng cử nhân luật của chế độ cũ coi như bỏ đi. Mỗi ngày mẹ chở con bỏ vào nhà trẻ rồi đi học. Ngượng vì mình có con quá sớm trong khi các bạn toàn độc thân, tôi mang theo một túi cói thật to để bỏ cái yên tháo ráp cho con ngồi trên xe đạp vào đó cho mọi người khỏi biết mình đã có con.
Hồi đó học đại học không chỉ là học sách vê kinh tế, thương mại mà còn phải học sách chính trị về chủ nghỉa Max Lenin và còn phải đi lao động xã hội chủ nghĩa vì theo bác Hồ thì “LAO ĐỘNG LÀ VINH QUANG”. Thế nên về đến nhà thì mệt nhừ, con khóc thì mẹ nổi đóa vì mẹ còn quá trẻ để biết hy sinh vì con. Ông ngoại chẳng quản đêm khuya cứ nghe tiếng cháu ngoại khóc là thức dậy bế ẵm đong đưa, mà con nhỏ cũng ác cứ ngủ ban ngày và thức ban đêm, đặt nằm xuống giường không chịu, bắt phải bế trên tay đong đưa qua lại.
Sau 75 ông ngoại buồn vì mất hết tiền tiết kiệm trong ngân hàng Việt Nam Thương Tín, của cải trong nhà đội nón ra đi. Khởi đầu là cái xe hơi, đến vòng vàng kim cương của bà ngoại, sau tới xe Honda của các con và sau cùng đến những thứ nhỏ nhất như xe đạp, quạt trần, chén đĩa kiểu .. thậm chí cả các ông Phước Lộc Thọ bằng sành sứ cũng được mang ra chợ trời để bán mua lấy đồ ăn.
Năm 75, ông ngoại lúc đó đang làm Giám Đốc Vật Tư cho một hãng làm que hàn của Pháp, do đó sau 75, ông được chính phủ Pháp làm hồ sơ bão lãnh sang Pháp nhưng ngày ấy đã không bao giờ đến. Mất việc, tiền tiết kiệm không còn, của cải đội nón ra đi từ từ… ông đã không chịu nổi cú “shock” đó lâu và đã phát bệnh “throat cancer” và mất chỉ một năm sau 75. Chưa có thời gian nào thê thảm hơn cho một gia đình mà các con còn đi học, người vợ lâu nay chỉ biết tề gia nội trợ, còn người chủ gánh vác gia đình lại biết mình sắp đi vào cõi chết nhưng bất lực chẳng làm gì được để cưỡng lại ý trời. Mất người chính của hồ sơ bảo lãnh vì thế chuyện đi Pháp định cư sinh sống cũng bị xóa sổ luôn.
Nhữn g buổi tối, không ai bảo ai, cả nhà cứ nhìn vào giường ông mà khóc vì nghĩ đến hôm nay ông còn nằm trong mùng mền ấm cúng, chẳng bao lâu nữa sẽ ra bãi tha ma lạnh lẽo nằm một mình. Mỗi bữa cơm, chứng kiến ông mỗi ngày một nghẹn thêm vì khối u trong cổ họng phát triển, thật là một cảm giác đau đớn cho những người thân khi nhìn ông từ từ ra đi. Rồi cuối cùng ông cũng phải lên bàn mổ, bác sĩ nói thẳng ra chẳng có chút cơ hội nào nhưng cũng phải “còn nước còn tát”. Thời bao cấp, thiếu thốn đủ thứ, gạo, đường, vải vóc còn phải mua giới hạn theo tem phiếu thì những bịch máu chuẩn bị cho cuộc giải phẫu đó khó đến chừng nào. Khó không chỉ vì đắt mà khó vì kiếm không ra nhóm máu O quý hiếm của ông, bà ngoại chạy ngược chạy xuôi, không người hỗ trợ giúp đỡ vì các con chưa đứa nào kiếm ra tiền. Còn những người thân thuộc quen biết thì cũng cùng hoàn cảnh khốn khó, sống chết ngày nào không biết, làm sao mà giúp được. Rốt cuộc thì vét hết số tiền còn lại trong nhà bà ngoại cũng mua được đủ máu chuẩn bị cho ca mổ. Ông ngoại vẫn rất tỉnh táo trước khi mổ, ông dặn “dù bằng giá nào các con cũng phải có bằng đại học của chế độ mới” mới có thể tồn tại được. Ông còn yêu cầu được ôm con bé cháu ngoại đầu tiên và duy nhất mà ông được thấy vào lòng trước khi lên bàn chuẩn bị cho một ca mổ mà hình như ông đã biết trước chẳng có ngày gặp lại gia đình. Quả thật sau ca mổ ông đã chẳng bao giờ thức dậy để mà tiếp tục lo lắng cho các con, vác đứa cháu ra cổng đứng khoe với hàng xóm nữa. Cả gia đình khốn đốn từ đấy, nhưng trong khốn khó hình như con người phải vươn lên và thành công. Không biết phải mừng cho ông vì đã ra đi sớm không phải nếm mùi thiếu thốn khổ cực sau 75 hay thương ông vì đã không được chứng kiến khi các con lớn lên thành công thì ông đã không còn sống để hãnh diện về sự vượt khó của các con mình.
Kể từ ngày ông ngoại mất, bà ngoại là người gần gũi con bé nhất, có thể nói con bé thương bà ngoại còn hơn thương mẹ vì bà ngoại làm đồ ăn ngon cho ăn, mắng mẹ mỗi khi mẹ đánh đòn con bé. Bà thương vì con bé chẳng được gần bố từ khi sinh ra cho đến khi lớn khôn.
Bà ngoại cũng như ông ngoại lấy sự học của các con làm điều quan trọng nhất, ông thì đã đành vì ông học rộng hiểu nhiều, thông thạo hai ngôn ngữ Anh Pháp. Còn bà ngoại, chỉ biết đọc biết viết, học chẳng cao nhưng vẫn rất hãnh diện khi các con thành công trên con đường học vấn.
Còn nhớ khi con bé cháu ngoại đã bắt đầu lớn và có bạn trai đến nhà chơi, hồi đó mới có computer ở Việt Nam, mọi người hăm hở đi học vì biết sử dụng vi tính sẽ tạo thêm cơ hội cho việc tìm kiếm việc làm. Bà đã khoe với bạn trai cháu rằng “mẹ nó cũng tân tiến lắm, cũng đang học ưu tính đấy”, vi tính mà bà nói thành ưu tính, làm con bé ngượng đỏ cả mặt vì bạn trai cháu cũng là kỹ sư ngành vi tính.
Cứ thế bà cháu, mẹ con nương nhau mà sống, mà lớn lên. Một ngày, bố cháu từ bên Mỹ trở về yêu cầu được bảo lãnh đứa con đi Mỹ. Cả nhà họp lại, bà ngoại cương quyết không chịu cho cháu đi vì nghĩ ở chỗ nào có đầy đủ gia đình vẫn tốt hơn. Mẹ thì nửa muốn con đi cho có tương lai, nửa lại sợ không chịu nổi cô đơn khi rời xa con. Rốt cuộc thì con bé cũng lên đường sang Mỹ theo diện bảo lãnh của bố, khỏi nói bà ngoại đã khóc lóc khổ sở ra sao khi xa con bé.
Số con bé vẫn là số cực khổ, sang Mỹ chỉ ở được với bố có đúng một năm là phải dọn ra ngoài ở vì không chịu nổi bà dì ghẻ tinh quái và vì bố không đủ bản lãnh để bảo vệ con mình. May thay, con bé cũng kiên cường giống mẹ, ngày đi làm full time, tối về đi học và sau cùng cũng lấy được bằng đại học.
Cứ vài năm con bé lại về VN thăm bà ngoại nay đã 94 tuổi, vài ngày thì lại chuyện trò cùng bà từ Mỹ. Mỗi lần về thăm hầu như con bé chỉ đóng đô bên bà ngoại và rất ít khi ở nhà với mẹ, chắc cháu nghĩ dù sao mẹ cũng còn qua lại Mỹ thăm viếng được con.
Hai mẹ con vẫn hay cười trêu bà ngoại vì mỗi khi con bé hỏi “bà có cần gì con mua gởi về cho bà”, câu trả lời cố hữu của bà bao giờ cũng là “con có sẵn kem dưỡng da thì gởi cho bà” hoặc “con có phấn hồng sẵn thì gởi cho bà, đừng mua tốn kém nhé con”…..Thế nên hai mẹ con vẫn thường diễn lại cuộc đối thoại của hai bà cháu để chọc ghẹo bà như sau:
“bà khỏe không bà?bà có cần gì con mua có người về con gởi về cho bà”
“bà khỏe, con có sản xuất ra phấn hồng thì gởi về cho bà, đừng mua tốn tiền hay có sản xuất khăn quàng cổ thì gởi về cho bà để bà quấn đi tập thể dục buổi sáng”
“bà có cần tiền tiêu không bà? con gởi về cho bà 200 đô để bà tiêu nhé bà, mẹ con ứng trước rồi con trả lại mẹ”
“Thôi con khỏi phải lo cho bà đã có mẹ mày lo, nhưng có đô gởi về thì cũng tốt thôi”
Thế là cả ba người, bà, mẹ và cháu cùng phá lên cười vui vẻ. Bà chỉ nói “tiên sư chúng mày”
Bà ngoại nhờ trời vẫn còn tinh tường lắm, khi cháu gởi tiền về biếu, hỏi bà “bà thích tiền Việt hay tiền đô hả bà?”
“cô đưa cho tôi tiền Việt vì tôi cũng có việc cần tiêu, hôm nay đô lên 21 phải không cô?” thế đấy, 94 tuổi chứ tỷ giá đô bao nhiêu bà đều nắm rõ, đừng ai hòng qua mặt bà.
Mỗi ngày bà tự đi bộ từ nhà ra công viên (ngày xưa là nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi) để tập thể dục. Tập xong thì họp các bà bạn, đa số là trẻ hơn bà cả hơn chục tuổi, đi ăn sáng và trò chuyện, khi thì bún riêu, khi thì phở, khi thì xôi…Nói chung tuy bà ngoại vẫn khỏe, chỉ thỉnh thoảng lên cơn mệt tim, nhưng ai trong gia đình cũng vẫn chuẩn bị tinh thần cho ngày xấu nhất sẽ đến và phải đến. Con cháu mong bà được hưởng những ngày vui vẻ hạnh phúc đầy đủ sau bao thăng trầm của một kiếp người.
Saigon Nov 8th 2011