Trong giấc mơ Hà bỗng gặp lại anh Dũng, anh là sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến, anh của một người bạn học cũ thời trung học với Hà. Anh Dũng đã mất hai năm trước trong một chuyến công tác và xe jeep của anh bị VC gài mìn nổ tung, xác thân tan tành.
Ngày ấy Hà thường hay đến nhà Chúc, một cô bạn học cùng lớp luyện thi tú tài để rủ Chúc đi học vì tiện đường. Vả lại nhà Chúc cũng không giầu có gì nên Chúc chỉ có mỗi chiếc xe đạp cọc cạch, còn Hà thì gia đình khá hơn nên cũng có được chiếc xe Honda Dame để di chuyển. Cái tình bạn giữa Hà và Chúc là một tình bạn rất chân thành, Hà hiểu khó khăn của gia đình bạn mình nên luôn tìm cách giúp đỡ bạn một cách khéo léo và tế nhị. Chúc không thi vào được trường công như Hà, Chúc học trường Trần Hưng Đạo là một tư thục cũng khá nổi tiếng, nhưng hai người bạn chỉ gặp nhau 3 lần một tuần vào những buổi luyện thi tú tài.
Những ngày đến rủ Chúc đi chơi, Hà vẫn thường gặp anh Dũng là anh lớn nhất của Chúc. Phải nói là anh Dũng là một người đàn ông hết sức đẹp trai và quyến rũ. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, anh đã không thể tiếp tục theo học đại học mà phải gia nhập quân đội những mong giảm bớt gánh nặng trên đôi vai đã oằn bao khó nhọc của bố mẹ mình. Ngày anh vào quân trường Thủ Đức, thỉnh thoảng cuối tuần Chúc vẫn rủ Hà lên thăm vì Hà có xe Honda và hình như Chúc cũng ngầm làm theo yêu cầu của ông anh mình.
Ngày qua ngày, anh Dũng đã ra trường về đóng quân ở Cần thơ, thường thì cứ mỗi tháng anh lại được về phép thăm nhà một lần. Hà rất có cảm tình với anh Dũng nhưng chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ trở thành người yêu của anh, những ngày anh về phép thường có Hà ghé chơi. Có lúc anh nhờ:
“Hà ơi em ủi hộ anh cái áo “chemise” này, về phép phải mặc đồ “civil” cho nhẹ nhàng chứ cứ khoác cái áo “trellis” hoài nhìn cũng nặng nề và chán quá”,
Hà đã nhanh nhẹn cắm bàn ủi và ủi hộ anh chiếc ào màu blue nhạt bằng vải oxford mà thời đó là mốt của đa số các anh thanh niên. Gia đình Chúc rất thương Hà vì Hà lồ tồ lộc tộc, nghĩ gì nói nấy, tuy gốc Bắc nhưng có lẽ do gia đình đã di cư vào Nam từ 1954 khi Hà mới có 3 tuổi nên cái chân chất Nam Bộ đã ngấm vào người cô chăng? Hà đến nhà Chúc thì tự nhiên như nhà mình, đôi khi xin phép mẹ ở lại ăn cơm với gia đình Chúc khi có anh Dũng về phép. Hà biết anh Dũng để ý mình nhưng lúc nào cô cũng làm ra vẻ không biết gì, thứ nhất nếu biết mà không đáp lại thì sẽ làm tổn thương anh Dũng là một người cô rất yêu mến, thứ hai là anh Dũng cũng chưa nói gì với Hà mà chỉ biểu lộ qua ánh mắt và cử chỉ thôi, hình như anh cũng nghĩ cuộc đời lính chiến nay đây mai đó, sống nay chết mai nên cũng chẳng muốn Hà phải dính líu vào một cuộc sống đầy bấp bênh.
Một lần Hà đang ủi áo giúp anh thì anh đến bên cạnh hôn nhẹ lên tóc Hà, cái hôn ấy sao mà ấm áp và thanh thoát lạ thường, cho đến bây giờ Hà vẫn không quên được cái cảm giác khi được anh hôn lên tóc. Có lần anh đòi xem chỉ tay cho Hà, có lẽ đó chỉ là một cái cớ để anh được tự nhiên hơn khi nắm tay người anh yêu mến, anh nói:
“Cô này chỉ tay đường tình cảm truân chuyên lắm đây.., “
“Thật không anh, anh làm em sợ quá!”
Chỉ thế thôi, tất cả đều nhẹ nhàng như những áng mây trôi lãng đãng trên bầu trời cao rộng không bờ bến.
Rồi ngày qua ngày, Hà đã lên đại học, Chúc thì quyết định xin làm thư ký cho một công ty xuất nhập khẩu để giúp đỡ các em tiếp tục đi học. Anh Dũng giờ đã lên Trung Úy, những buổi đi chơi chung với anh và Chúc cũng làm Hà vui vì cả hai anh em đều rât dễ thương và cũng vì Hà rất thương Chúc, một người bạn chân thật và hiền lành vô cùng. Hình như Chúc biết phận mình nhà nghèo, còn nhiều gánh nặng nên luôn sống khép kín và rất an phận. Nhiều lần đi chơi ba người, khi thì xem phim ở Casino Saigon, khi thì ghé ăn kem Bạch Đằng, ngồi ngắm trời đất. Đôi lúc Hà thấy Chúc giả tảng đi toilet để lại khoảng không gian trống trơn chỉ có Hà và anh Dũng, Hà có cảm giác như anh Dũng đang định nói cái gì đó nhưng ngập ngừng một lúc lại thôi. Sau này khi anh Dũng đã mất, Chúc mới nói lại với Hà là anh Dũng một mặt nào đó rất thích Hà nhưng mặt khác lại không muốn lôi Hà vào một cuộc sống bấp bênh của đời lính thời chiến, Hà đã khóc thật nhiều khi nghe những gì Chúc nói lại.
Rồi một ngày, vào một buổi tối vừa ăn cơm xong đang định rửa bát giúp mẹ thì Chúc hớt hãi chạy tới “Hà ơi, anh Dũng mất rồi. Xe anh bị gài mìn khi đang đi công tác ở khu vực ngoại ô Cần Thơ, cả một xe chỉ có mình anh mất ngay, còn 3 người kia chỉ bị thương nặng”.
Hà nghe cả một bầu trời sụp đổ trước mắt mình, dù anh Dũng không phải là người yêu của mình nhưng Hà luôn coi anh Dũng như một người anh trong nhà. Những đêm nằm trong chăn ấm nệm êm ở Saigon, nghe tiếng súng từ xa vọng về, Hà vẫn luôn lo lắng nghĩ tới anh, vậy mà bây giờ nỗi lo lắng đó đã thành sự thật, anh đã chẳng còn trên cõi đời này nữa.”
Thay vội quần áo, Hà xin phép mẹ được đi cùng Chúc về nhà Chúc để giúp bạn lo liệu mọi thứ. Xác anh đã được đưa về Saigon và hiện đang quàn tại chùa Vĩnh Nghiêm vì nhà anh ở trong hẻm quá nhỏ không tiện cho mọi người thăm viếng. Ngôi chùa này ngày xưa đã quàn xác ông anh cùng cha khác mẹ của Hà, Hà tự hỏi cuộc chiến phi lý này sẽ còn cướp đi bao nhiêu cuộc sống tươi trẻ nữa?
Đến nhà anh với tâm trạng rối bời, Chúc như không còn bình tĩnh nổi, ngồi sau lưng Hà bám lấy Hà như một người sắp chết đuối vớ phải cái phao. Hà thấu hiểu nỗi đau của Chúc vì biết hai anh em họ rất gần gũi nhau. Cũng cái xóm nhỏ ngày nào, cũng căn nhà nhỏ ngày nào líu lo tiếng cười nói mỗi khi anh về phép, giờ đây nó lạnh tanh đến ghê người. Cả nhà đã lên chùa chỉ còn con chó Tobe nằm canh nhà trước sân. Con chó ngày xưa luôn sủa vang mừng rỡ, hôm nay hình như nó cũng biết đau với nỗi mất mát lớn lao của gia đình nuôi mình, nên chỉ đập đuôi nhẹ nhàng khi thấy Hà đến. Hà vẫn nhớ anh Dũng thường hay ném cái vòng plastic cho con Tobe đi nhặt về và thưởng cho nó một cục xương trước sự tán thưởng của cô.
Sau khi chuẩn bị một số quân áo để mang lên chùa liệm anh, Hà chở Chúc lên Vĩnh Nghiêm, có một năm vào đêm giao thứa anh Dũng cũng đến đây cùng cô và Chúc. Anh cũng đốt nhang cầu trời khấn phật khi tiếng chuông chùa vừa điểm 12 giờ đêm và pháo bắt đầu nổ vang khắp nơi. Trong cái không khí trang nghiêm đó, Hà vẫn tự hỏi, anh Dũng đang cầu khẩn điều gì? cấu cho gia đình mình bớt cơ cực các em mau trưởng thành, cầu cho tính mạng mình được bảo toàn cho bà mẹ già không chất thêm đau khổ, hay cầu cho đất nước mau hết chiến tranh cho những thanh niên như anh không còn đánh mất thời trai trẻ… còn gì nữa đâu anh, giờ anh nằm đây xuôi tay, tất cả đã ngoài vòng kiểm soát, có muốn làm gì cho cha cho mẹ, cho anh cho em, cho những người anh yêu dấu thì cũng đã quá trễ rồi.
Hà biết anh rất bi quan về cuộc sống của một người lính thời chiến, một cuộc chiến chẳng có ý nghĩa gì, nhưng mỗi khi về nhà anh vẫn cố tỏ ra vui vẻ, tự tin để cho cha mẹ khỏi quá lo lắng vì anh. Nhưng thôi, định mệnh đã an bài, có ai cưỡng lại được đâu. Nghe nói khi anh mất cũng có một chị ở Cần Thơ đến chăm sóc cái xác không hồn của anh và khóc ngất. Theo đồng đội của anh kể lại thì chị tên Hiền, và tính tình thật hiền lành như cái tên của chị. Chị có một quán bán nước gần chỗ anh đóng quân, tuy là gái quê nhưng chị khá xinh đẹp và đã thầm yêu và chăm sóc anh mỗi khi có dịp anh ghé vào quán uống nước.
Giờ đây, tất cả những người yêu mến anh chỉ còn thấy anh vài phút nữa thôi, lần sau cùng trong thân xác nát tan và mãi mãi sẽ chẳng thấy anh nữa vì nắp quan tài kia sẽ được phủ lại, đóng đinh và trét một thứ bột mầu nâu để cách ly anh vĩnh viễn với thế giới của người sống.
Là con người ai cũng đã khóc nhiều lần trong đới, cái khóc lúc bé dại đòi theo cha mẹ, cái khóc khi không đậu một kỳ thi, cái khóc khi một mối tình tan vỡ, nhưng cái khóc của Hà ngày hôm nay cho anh chẳng phải cái khóc cho một người tình, mà khóc cho số phần của một con người tài hoa bạc mệnh, một người mà cô trân quý suốt đời. Hà tự hỏi phải chăng mình đang khóc cho một mối tình chưa được bộc lộ, nhưng thôi biết đâu thế vẫn đẹp hơn vì đó sẽ là một tưởng nhớ sẽ theo cô đến tận cuối đời.
Trong giấc mơ, Hà vẫn nhớ rằng anh đã mất. Hà hỏi:
“Ủa anh Dũng, anh mất rồi mà? Đừng làm em sợ”
“Ừ Hà ơi, anh mất thật rồi, giờ anh chỉ là tro bụi nhưng thỉnh thoảng vẫn nhớ nhà, nhớ em và chỉ muốn về thăm một chút rồi anh lại đi thôi.”
“Anh khỏe không anh?”
“Anh bình thường và rất vui khi em đã có gia đình yên ổn hạnh phúc”
“Anh Dũng ơi ngày xưa sao anh định nói gì mà cứ ngập ngừng chẳng nói với em?”
“Anh không muốn lôi em vào cuộc sống cơ cực, bấp bênh của người vợ lính. Em trong trắng trinh nguyên quá nên anh muốn em cứ mãi ngây thơ và yên bình như thế thôi. Mà nếu lấy anh bây giờ em đã thành góa phụ trẻ rồi thì tội nghiệp em biết bao”.
“Nhưng anh Dũng ơi, em vẫn nhớ đến anh hoài, như một người anh thân cận nhất mà em đã từng có.”
“Cám ơn em, anh chỉ mong em luôn hạnh phúc bên chồng con, còn bây giờ thì anh phải đi thôi em ạ, tạm biệt em.”
Hà thảng thốt bật tỉnh dậy, nước mắt ướt mèm gối, chỉ là giấc mơ thôi sao?
Những ngày đầu theo chồng về thành phố Đà Nẵng, Kỳ Anh buồn đến tê tái cả lòng. Ai bảo đi theo chồng là sướng chứ đối với cô đó là những ngày nhớ cha mẹ anh chị em đến da diết, nhớ mái nhà mình đã ở bao nhiêu năm, nơi có bố mẹ luôn chăm sóc chiều chuộng. Các anh em chia xẻ bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, dù đôi lúc cũng bất đồng quan điểm và thậm chí đánh nhau nhưng khi xa rồi mới thấy nhớ và quý cái khung cảnh gia đình đầm ấm ấy. Ở nơi đó, trừ những ngày phải dậy sớm đi học, còn thì muốn ngủ tới giờ nào thì ngủ. Cũng nơi đó, mẹ luôn gánh vác làm đủ thứ việc cho các con có thì giờ học hành. Về nhà chồng làm dâu, việc gì cũng phải giữ ý tứ, ngồi đàn hát chơi với ông anh chồng, lỡ đùa một câu “anh làm cái mặt giống táo bón quá!” thế là đã bị mẹ chồng lôi vào giảng “moral” như thế là hỗn, là không được. Cấn thai đứa con so, lúc nào cũng buồn ngủ mê mệt, nhưng đến sáng khi bà mẹ chồng xách giỏ đi chợ là cũng phải dậy làm bộ sờ cái này mó cái kia, dù nhà có đến 3 người làm, đợi khi bà đi rồi lại nhào vào phòng làm thêm một giấc nhè nhẹ. Có mang lúc nào cũng thèm ăn vặt, mà ăn ngọt chứ không phải ăn chua, sai người làm đi mua đồ ăn vặt hộ nhưng phải dấu vào cái nón đội về cho bà mẹ chồng không thấy kẻo lại bị chê là đàn bà ăn hàng. Thế đấy có xa gia đình mới biết quý những gì bố mẹ và anh chị em dành cho mình.
Ông chồng đóng quân ở Quảng Tín cách xa Đà Nẵng vài trăm cây số, thỉnh thoảng mới được ghé về nhà thăm vợ. Ngày ngày đi ra đi vào, khép nép giữ gìn ý tứ với cả đại gia đình chồng, từ cô em út rất khắt khe tới ông anh chồng, bố mẹ chồng và sau cùng là cậu mợ chồng. Đến ngay cả những người giúp việc trong nhà, cũng biết làm dâu là yếu thế, cũng tìm cách ăn hiếp cô, đổ thừa cho mợ (tiếng người làm gọi cô) làm những điều không có. Người giúp việc làm cá không làm ngoài sàn nước mà mang vào nhà tắm làm, khi bà mẹ chồng phát hiện ra máu cá, thì chúng đổ thừa là do mợ út vào nhà tắm và dây bẩn ra đó, cũng may là mợ Út đang có mang nên chuyện vô lý đó đã được chứng minh và nhờ đó mà mợ Út thoát nạn.
Những giây phút hạnh phúc nhất là lúc ông chồng được về phép, ở nhà mấy ngày, chở vợ đi ăn những món ăn vặt như bánh khoái, bánh bèo, bánh bột lọc, bún cá.. những đặc sản của người miền Trung đường Ngô Đình Dương. Ngồi sau lưng xe Lambretta của chồng, vòng tay ôm để hưởng lấy cái hơi ấm từ con người ấy truyền sang cho cả hai mẹ con, thật là hạnh phúc. Hình như những lúc ông chồng về phép thì cô cũng được mọi người trong gia đình chồng đối xử tốt hơn, có lẽ để làm vui lòng con và anh trai họ.
Cuộc sống cứ thế mà êm đềm trôi, thoắt cái đã tới tháng thứ 7 của thai kỳ. Bà mẹ ruột cứ gọi điện thoại mãi để hỏi thăm sức khỏe con gái, báo đã mua một nôi cho em bé và chuẩn bị gởi xe đò mang ra cho cháu ngoại. Ông bố thì viết một bức thư tâm tình dài thòng “con ơi, từ nay con đã là người có gia đình, có chồng và sắp có con. Con phải biết kính trên nhường dưới, sống sao cho phải đạo làm người. Bố mong nhận được toàn các tin tốt về con”. Bố ơi, bố khỏi dậy con thì con cũng phải nhịn nhục dù không khí nghiêm ngặt trong gia đình chồng con đôi lúc làm con tủi thân và khá là khó thở so với những ngày còn ở bên bố mẹ và các anh em, bố đừng lo, con chẳng làm gì để bố mẹ bị mắng vốn vì con biết con là một đứa con gái sinh trưởng trong một gia đình có giáo dục. Chưa bao giờ con thương bố mẹ như lúc này, bố mẹ ơi! cô tự nhủ.
Từ lúc ông chồng vào lính, cô mới bắt đầu để ý đến tình hình chiến sự chứ lúc trước cô hầu như hoàn toàn được cô lập với những gì diễn tiến trong cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc. Những ngày tháng 3 ở Đà Nẵng là thời gian tuyệt vời, trời còn hơi se se lạnh thật dễ chịu, tin tức chiến sự khắp nơi đổ về, ngày càng sôi động, ông chồng, chắc do tình hình căng thẳng nên cũng chẳng về nhà được nhiều như trước. Vào giữa tháng ba, khắp nơi tiếp nhận tin tức đầu hàng của quân đội Cộng Hòa khắp nơi, từng tốp lính bỏ súng đầu hàng vô điều kiện dưới lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh,Tổng Thống lâm thời lúc bấy giờ. Cô bắt đầu chứng kiến những đoàn người lũ lượt kéo nhau chạy loạn ngang qua Đà Nẵng, còn chồng mình thì chẳng thấy tăm hơi đâu. Dân thường có, lính buông súng đầu hàng có, họ lũ lượt lếch thếch kéo nhau đi ngang thành phố. Nghe đâu cũng có vài nơi tử thủ, nhưng làm gì thì làm vấn đề bây giờ, cô nghĩ, là con mình phải có cha và mình phải có chồng, đơn giản thế thôi.
Một tuần trôi qua, ruột gan Kỳ Anh như lửa đốt, tin tức chiến sự mỗi ngày một sôi động. Người ta tìm cách vào Saigon bằng máy bay, tầu thuyền, xe lửa, xe hơi… trong khi cô vẫn ngồi đây ngóng tin chồng. Không còn bình tĩnh được nữa, cứ nghĩ tới đứa bé trong bụng sinh ra không có cha mà cô thảng thốt, chẳng lẽ số phận nghiệt ngã với cô như vậy sao. Mỗi khi ngồi một mình ban đêm trong căn phòng của hai vợ chồng, cô vẫn sụt sùi khóc cho phận mình, mỗi khi chồng về phép cô vẫn bắt phải để lại một cái áo “trellis” đầy mùi mồ hôi chồng để khi anh đi cô còn ôm lấy mà ngửi hơi chồng tưởng như anh còn đâu đây quanh cô, lấy chồng thời chinh chiến cô luôn linh cảm chuyện chẳng lành sẽ xảy ra, chẳng lẽ bây giờ điều cô lo nghĩ bấy lâu đã thành sự thật, đúng là cuộc đời vợ lính lênh đênh chẳng biết về đâu ngày mai.
Người nhà khuyên can, bà mẹ chồng chưa bao giờ hiền dịu như thế, những anh em chồng nhìn cô ái ngại, cả hàng xóm cũng sang thăm nhìn cô bằng cặp mắt thương cảm. Quảng Tín đã mất về tay cộng sản mà bóng chồng cô vẫn bặt vô âm tín, anh đã mất hay bị thương tật nằm đâu đó trong cánh rừng nào mà em không được biết, sao chiến tranh gây ra nhiều khổ đau như vậy!
Nhưng trời còn thương, không nỡ bắt người đàn bà mới có 24 tuổi phải chịu cảnh góa bụa. Một buổi sáng khi trời mới tờ mờ, cô nghe có tiếng gọi cửa, đúng là tiếng anh, tim cô như thót ra ngoài. Gọi người làm mở cửa, cô thấy anh xuất hiện, râu tóc mọc lung tung như một người thời tiền sử, hóa ra anh đã trốn trong rừng hai tuần lễ, chỉ ăn lá cây và uống nước suối, rồi tìm đường trốn về Đà Nẵng vì Quảng Tín đã mất.
Cô ôm chầm lấy anh, chẳng để ý gì đến cả gia đình chồng cũng đang muốn ôm con và anh họ vào lòng. Cô bật khóc nức nở, những giọt nước mắt hạnh phúc vì biết con mình còn có cha, cô còn có chồng, anh đã về đây cho mẹ con em khỏi trở thành góa bụa côi cút.
Những ngày tiếp theo, dân Đà Nẵng lục tục kéo nhau di tản vào Saigon. Cô cũng cùng chồng và đứa con trong bụng, thêm một ông anh chồng lên tầu kiếm đường vượt biển để trở về nơi có cha mẹ anh em cô đang chờ đợi. Ra đi mà chẳng kịp mang chút đồ ăn, ông chồng cô chỉ kịp quơ vội vài hộp sữa đặc mang theo phòng khi đói khát. Khi đi từ ghe nhỏ sang tàu lớn, vẫn có những phát đạn lẻ tẻ bắn theo những người tìm cách trốn đi, đến bây giờ cô vẫn không hiểu đó là những tiếng súng bắn sẻ của phe quốc gia hay phe cộng sản. Cuối cùng thì hai vợ chồng cô và người anh chồng cũng lên được chiếc tầu lớn đúng lúc chiếc tầu chuẩn bị nhổ neo. Trên tầu lúc nhúc đầy người, lúc đó cái hạnh phúc khi lên được chiếc tàu đi tìm tự do đã lấn át đi cái mệt mỏi và đói khát đang dâng trào trong người, nhất là đối với người đang mang thai như cô. Chỉ đến khi chiếc tàu đã rời xa cảng Đà Nẵng được nửa buổi, khi hoàng hôn bắt đầu buông xuống thì cô mới cảm thấy đói một cách cồn cào. Mọi người khác hình như cũng hối hả nên chỉ mang được chút ít đồ ăn cho bản thân mình, cô lờ đờ nhìn ra xa xa phía bên đầu kia của con tầu, thấy một nhóm người trong trang phục tu hành đang ngồi ăn. Lúc đó cô chỉ mong mỏi, mọi người hoặc nhóm các vị tu hành kia sẽ thấy cô bụng mang dạ chửa, mà thương tình cho cô một chút gì đỡ dạ chăng? nhưng đáp lại ánh mắt vô vọng của cô là con số không, chẳng ai buồn cho cô thứ gì lót dạ. Cô lã người đi, vừa đói vừa khát tưởng chừng có thể chết ngay lúc ấy vì đứa con trong bụng có lẽ cũng đói quá nên quẫy đạp lung tung. Thế mới biết trong ranh giới sinh tồn của cái chết và sự sống, cái bản năng cơ bản khiến ai cũng phải nghĩ đến bản thân mình trước. Ông chồng sau cùng chỉ còn cách lấy cái lon sữa bò cột vào một sợi dây thòng xuống biển lấy nước, ông bảo “thôi thì có sữa đặc đây em cứ húp lấy, xong uống chút nước biển vào, có còn hơn không…..” cô theo lời chồng cũng cố nhấp tí sữa đặc ông Thọ, sau đó nhấp thêm tí nước biển, cơn đói dịu đi nhưng cơn khát hình như còn bùng phát dữ dội hơn, cô lã đi chẳng còn biết gì nữa. Khi cô tỉnh dậy, thấy cổ họng đỡ khô rát, hình như mọi người đã giúp cho cô chút nước ngọt để uống có lẽ vì sợ cô đuối sức mà chết.
Cứ thế con tàu lênh đênh trên biển đúng ba ngày hai đêm thì cập bến Khánh Hội, cô đã tồn tại chỉ nhờ vài lon sữa đặc và chút nước ngọt bố thí của bà con. Khi còn tàu lớn cập bờ, vẫn còn một khoảng trống khá lớn giữa tàu và bờ cảng, cô lập cập vui mừng bước lên, cái vui sướng vì đã được đến bến bờ tự do (dù sau đó bến bờ này chỉ là tạm thời), được gặp lại cha mẹ anh chị em, đã át đi cái sức cùn lực kiệt của chuyến tàu đầy đói khát này, át cả cái đau của chiếc đầu gối bị thương đang nhầy nhụa bám chặt vào chiếc quần cô đang mặc, cô đã ngã trong lúc chen lấn lên tàu, may mà đứa bé được ơn trên che chở chẳng hề gì. Ông anh chồng khi chuyển chiếc “valise” của mình lên bờ đã tuột tay làm nó rơi tỏm xuống dòng sông lạnh giá, tiếc ngẩn tiếc ngơ nhưng cũng phải cất bước đi vì đoàn người đang thúc giục phía sau lưng.
Kìa trên bờ bao nhiêu là người thân đang vẫy gọi người nhà của họ, cô được ông chồng dìu bước đi, bỗng cô nghe tiếng gọi ríu rít “Kỳ Anh ơi, Kỳ Anh ơi”, cô hạnh phúc không ngờ khi thấy bố mẹ, anh em mình đang đứng kia vẫy gọi. Thì ra trong khi chiếc tàu đang ục ịch di chuyển vào Saigon thì radio đã thông báo có một chiếc tàu lớn chở theo bao nhiêu thuyền nhân xuất phát từ Đà Nẵng đang tiến về cảng Khánh Hội. Cha mẹ cô vẫn nuôi hy vọng là sẽ có con gái mình trên ấy nên ông bố đã bỏ cả nhà vào xe hơi và chở ra Khánh Hội đón cô.
Trên đường về, ba người anh em cô đã được yêu cầu đón taxi đi vì xe phải chở 3 người vừa di tản về. Chưa bao giờ căn nhà cô không khí lại ấm cúng như thế, bố mẹ và các anh em cô quây quần bên những người vừa trở về từ “cõi chết”, đúng lúc radio thông tin thành phố Đả Nẵng đã hoàn toàn thất thủ về tay cộng sản. Cha mẹ cô thở dài nhẹ nhõm, con gái và con rể đã ở đây an toàn, mẹ vội lên bàn thờ Phật và ông bà đốt vài nén nhang khấn vái tạ ơn che chở.
Cô nhìn vào góc phòng, cái nôi em bé xinh xinh mà mẹ chuẩn bị gởi ra Đà Nẵng đang nằm trong góc, xinh xắn và dễ thương. Những ngày sau đó mẹ làm hết món này món nọ để chiêu đãi con gái và con rể đến nỗi bố cô phải nói “bà đừng có mà tẩm bổ cho con quá, mai mốt cháu trong bụng nó to quá khó sinh..” thế là mẹ lại bớt được một hôm sau đó đâu lại hoàn đấy, hình như mẹ cố bù đắp cho con gái những thiếu thốn khi xa nhà.
Những ngày sau đó, tình hình chiến sự ngày càng sôi động, thông tin báo các tỉnh đã mất lần lượt về tay cộng sản. Nhà cô ở gần tòa đại sứ Mỹ, mọi người rầm rộ kéo đến tìm đường thoát thân. Các building cho người Mỹ thuê cũng thưa vắng dần vì chính phủ Mỹ bắt đầu di tản công dân của họ về nước để bảo đảm an toàn. Những dân lao động chẳng biết ở đâu kéo vào những tòa nhà này để “hôi của”, họ khiêng ra ngoài bất cứ thứ gì có thể, từ những chiếc ghế đẩu đến các tủ đựng quần áo to đùng. Có hai người đã bị tủ đè chết khi đang cố hôi của, gia đình cô chỉ dám đứng xa xa nhìn vì bọn họ toàn là dân anh chị giành giật cùng nhau. Có một chiếc bàn salon bằng gỗ gõ rất đẹp được khiêng ngang nhà cô, mẹ cô thấy đẹp nên đã ngã giá mua lại để thay cho chiếc bàn salon đã cũ.
Cuối cùng thì cũng đến ngày 30/4, dù xung quanh bao nhiêu người đi lọt vào tòa Đại Sứ để lên trực thăng ra Đệ Thất Hạm Đội đậu ngoài khơi Vũng Tàu nhưng chồng cô không nỡ bỏ đi khi bụng cô đã quá to vượt mặt. Chỉ còn đúng một tháng nữa là đến ngày sinh, trong tình hình dầu sôi lửa bỏng này chỉ có những người thật quyết đoán mới dám bỏ xứ sở, bỏ lại gia đình, làng xóm, bè bạn mà ra đi. Từ đây bắt đầu một chương mới trong lịch sử của đất nước mà cô và gia đình, những người ở lại, đã chịu bao nhiêu đắng cay khổ sở.
Saigon March 8th 2012