Wednesday, 11 January 2012

TẾT XƯA




Những ngày này năm xưa là thời gian cả nhà chúng tôi nao nức chuẩn bị Tết, mỗi người một việc, hệt như đã được phân công rô ràng. Anh em chúng tôi lo lau dọn bàn thờ Phật và bàn thờ ông bà, lau bụi các cửa sổ và cửa ra vào. Có năm khi bố mẹ đi vắng, chúng tôi còn hí hửng bầy ra chuyện quét vôi nhà cho mới để gây ngạc nhiên cho bố mẹ. Ngày ấy nhà nào cũng chỉ quét vôi thôi chứ chưa có sơn nước như bây giờ, muốn cho lớp sơn mới đẹp phải cạo bỏ lớp cũ và chà giấy nhám cho bằng phẳng trước khi quét lớp mới lên. Trong tri óc non nớt của anh em chúng tôi, chuyện quét vôi cũng đơn giản thôi nên chúng tôi hì hục mua vôi về ngâm với nước, mua a dao để trộn với vôi cho dính vào tường, nếu không đụng vào sẽ dính đầy tay hay quần áo. Ngạc nhiên cho bố mẹ đâu không thấy mà nhà cửa bừa bãi, nếu định quét vôi phải có chuẩn bị từ trước để kêu thợ vì mấy ngày Tết rất hiếm thợ vì họ về quê ăn Tết sớm sau một năm làm việc cực khổ, phần vì cầu cao hơn cung. Kết quả là bốn anh em bị bố phạt, bắt nằm ra trên tấm phản gỗ để đánh đòn, ông anh cả tôi do cái tội đầu têu em nên bị bố đánh nhiều roi nhất, nhưng ông này rất là “thông thái”, trước khi ăn chổi lông gà đã kịp nhét hai tờ báo vào mông nên không hề hấn gì, sau khi bị đánh vẫn cười khì khì. Chỉ tội cho 3 đứa em nhát gan không dám bắt chước nên bị bố đánh lằn cả mông. Nhà cửa tróc lóc nham nhở, báo hại bố tôi phải lùng sục đi kiếm thợ về làm cho kịp năm mới, may mắn có một nhân viên dưới quyền bố biết nghề quét vôi đến giúp đỡ nếu không chúng tôi chắc chắn bị một trận đòn nữa.

Bố tôi thì lãnh nhiệm vụ mang bộ lư đồng trên bàn thờ ông bà nội đi đánh cho bóng cho đẹp vì mỗi năm cũng chỉ làm một lần duy nhất. Mẹ thì lo làm củ kiệu, dưa hành, củ cải ngâm nước mắm để ăn cùng thịt kho và bánh chưng trong những ngày tết.

Gia đình tôi thuộc giai cấp trung lưu nhưng mẹ tôi luôn dậy cho các con phải biết giá trị đồng tiền vá tiêu tiền sao cho có chừng mực. Tiền học bao nhiêu mẹ cũng không tiếc các con nhưng tiền ăn diện thì rất có chừng mực. Tôi vẫn nhớ hằng năm mẹ chỉ chi tiền cho chúng tôi mua hai bộ đồ diện Tết để đi ra ngoài và ba bộ đồ bộ mặc ở nhà, hai chị em tôi hăm hở đi chợ chọn mua vải để may quần áo theo ý mình vì ngày đó không có quần áo may sẵn. Ba bộ đồ bộ mới mặc ở nhà sẽ được chúng tôi mặc trong ba ngày Tết từ mồng một đến mồng ba.

Không phải chỉ lo quần áo cho các con, mẹ tôi còn cho chúng tôi tiền may áo mới cho bầy chó 4 đứa của 4 anh em tôi. Ngày ấy cũng chưa có quần áo chó bán sẵn, trời Tết có gió lạnh nên chúng tôi cũng chỉ biết mua vải nỉ mỏng và mang ra chị Sáu thợ may, chuyên may áo gối cho mẹ, để may các áo “trấn thủ” cho các con chó của mình. Áo trấn thủ là loại áo không tay có cổ tròn sát, chui đầu vào với hai bộ khuy bấm ở một bên vai để giữ ấm phần ngực.





Cứ thế anh em chúng tôi hân hoan đón Tết, vừa được nghỉ học, vừa có quần áo mới, vừa được tiền lì xì, vui sao là vui. Chưa đến ngày Tết chúng tôi đã “thương lượng” với bố mẹ về tiền lì xì, sau đó bốn anh em lên danh sách những cô dì chú bác trong họ sẽ lì xì cho mình mỗi năm, ông anh tôi còn làm một bảng “dự toán” về tiền lì xì và lên kế hoạch sau Tết sẽ sắm sửa gì với tiền lì xì đó.

Rồi việc chuẩn bị bàn thờ, nhà cửa, đồ ăn và quần áo cũng xong. Bố tôi làm Bộ Canh Nông nên năm nào nhà chúng tôi cũng được biếu một cây mai to thật đẹp, bố sửa soạn bọc giấy đỏ vòng quanh chậu mai lấy hên đầu năm, anh em chúng tôi thì giúp treo những tấm thiệp chúc tết từ khắp nơi gởi về cho bố mẹ, có thêm cây mai không khí Tết trong nhà càng hiển hiện hơn.

Bố mẹ tôi và có lẽ là đa số người VN đều có lòng tin là ngày đầu năm trong nhà nếu có đầy đủ gạo, than, nước mắm….thì cả năm cuộc sống sẽ sung túc đầy đủ. Tôi thấy mẹ lo đong gạo, hứng nước cho đầy hồ, mua thêm than và thậm chí thay mới cả chổi quét nhà và đồ hốt rác.

Ngày 30 Tết, mẹ làm cơm đón ông bà, tôi thấy bố tôi trịnh trọng mặc chiếc áo dài bằng vải the đen, đốt nhang khấn vái với nét mặt hết sức là trịnh trọng. Sau khi tàn nhang và hóa vàng gia đình chúng tôi cùng ăn bữa cuối năm. Mẹ cũng chuẩn bị hoa quả, một đĩa sôi gấc, một con gà luộc, một đĩa chè kho (loại chè làm bằng đậu xanh vẫn chưa nhuyễn hẳn đóng thành bánh trên đĩa của người Bắc) và một trái dừa để cùng giao thừa. Bố sửa soạn một phong pháo dài 5 thước treo sẵn trên ban công nhà, giao thừa vừa điểm là ông châm ngòi đốt pháo. Tiếng pháo nổ ròn rã cùng lúc chương trình TV phát sóng từ trên trực thăng ngân lên những bản nhạc xuân ôi sao vui lạ! Ngày ấy chưa có đài truyền hình dưới đất, nên các chương trình TV chỉ được phát sóng từ một trực thăng bay trên cao phủ sóng truyền hình xuống đất.

Bố tôi rất kỹ về việc xông đất nên sau khi cúng giao thừa, đích thân ông cụ bước ra khỏi nhà đi một vòng và trở về xông đất. Mẹ vẫn nói “để bố mày xông đất cho chắc ăn, trong năm nhỡ có chuyện gì ông ấy khỏi đổ thừa cho người khác”. Bố tôi dặn chúng tôi ngày mồng một không được sang nhà hàng xóm chơi vì nhỡ nhà người ta chưa có ai xông đất mà mình sang có gì không tốt người ta đổ cho mình. Bố cũng không cho chúng tôi quét nhà ngày mồng một Tết, đến mồng hai mới bắt đầu quét nhà nhưng phải quét từ ngoài ngược vào trong nhà nếu không của cải và lộc sẽ đi ra.

Ngày mồng một Tết là ngày cả nhà đi thăm bà ngoại và họ hàng chú bác, chúng tôi được bao nhiêu là tiền lì xì từ họ hàng. Ngày mồng hai nhà tôi bắt đầu có khách đến xoa mạt chược với bố, chúng tôi hoan hỉ chúc tết các chú các bác, bù lại tiền lì xì đầy túi. Bốn anh em chúng tôi đứa nào cũng có riêng một cái ví, hì hục kiểm tiền lì xì cả ngày, đếm tới đếm lui, và sau đó lên kế hoạch mua sắm cho những ngày sau Tết.

Tôi cón nhớ hồi đó tiền lì xì sau Tết cũng là khá lớn đối với các đứa bé con như chúng tôi nhưng dù mẹ dỗ thế nào thì chúng tôi cũng cương quyết không gởi mẹ giữ, vì gửi vào thì dễ nhưng lấy ra thì rất khó. Bố tôi bênh chúng tôi nói “thôi để cho các con nó giữ nó mua đồ chơi hay quần áo cho vui, chứ mẹ mà giữ thì chúng nó lại phải đòi nợ như nợ chà dzà chịu sao nổi”. Chẳng là hồi xưa các ông chà dzà hay cho vay lãi nên khi đến hạn mấy ông ấy đi đòi nợ dai lắm, ai thiếu cũng phải lo trả, cho nên trong nhà tôi có thành ngữ “nợ như nợ chà dzà” là thế.

Những kiêng cử mà bố mẹ tôi áp dụng trong những ngày đầu năm đã nhập vào con người tôi và mãi đến bây giờ sau mấy chục năm tôi vẫn áp dụng những kiêng cử đó vào ngày đầu năm để lấy hên. Thôi kệ “có kiêng có lành” mẹ hay nói thế, it nhất cho lòng mình được thanh thản.

Bao nhiêu năm đã trôi qua, bố giờ đã đi xa, mẹ già lớn tuổi quá chẳng còn làm gì được để phụ giúp con cái trong ngày Tết, anh em mỗi đứa mỗi nơi, mỗi phận riêng biệt. Sau bao thăng trầm trong cuộc đời, ở tuổi này tôi nhìn Tết một cách hờ hững, hầu như chẳng còn gì xúc động. Từng người bạn lần lượt bỏ đi xa, dù cuộc sống của riêng mình cũng tạm ổn nhưng nhìn quanh, dân tình khổ sở, kinh tế khủng hoảng, Tết đến nơi mà bao nhiêu người mất việc, xã hội bất ổn, bạo lực gia tăng, tai nạn xe cộ xảy ra hàng ngày giết chết bao người vô tội. Tôi tự hỏi từ giờ đến mồng một Tết, có bao nhiêu người sẽ bỏ mạng vì tai nạn giao thông và không kịp đón năm mới. Giờ đây chỉ những cái Tết êm đềm thời thơ ấu là còn đọng lại đầy ắp trong ký ức của tôi.
Saigon Jan 12th 2012

SAIGON NGÀY ĐẦU NĂM




Những ngày cuối năm trời Saigon bỗng trở lạnh, cái lạnh chẳng đáng gì so với nhiều nơi khác, thế mà mọi người cũng phải lôi áo ấm ra mặc. Có lẽ vì Saigon ít lạnh nên người Saigon rất thích thú khi trời trở lạnh, các cửa hàng bán quần áo ấm, từ shop sang trọng đến các sạp trải miếng plastic bán bên lề đường đều đông khách hẳn. Hồ bơi mùa này vắng hẳn khách có lẽ vì mọi người sợ bị cảm lạnh.

Mỗi buổi chiều, khi ánh nắng vừa tắt là đường phố lại đầy người, những gia đình lao động chở nhau trên những chiếc xe gắn máy, 5 thành viên trên đó: cha mẹ và 3 đứa con vì chẳng còn lựa chọn nào khác. Có một nghịch lý là người lớn thì đội “helmet” kỹ càng phòng tai nạn tổn thương đầu khi ngã xuống, cũng có thể đó là vì phải tuân thủ một điều đã thành luật, nếu không đội lỡ bị cảnh sát tuýt lại thì tiền phạt con cao gấp mấy lần cái helmet “dỏm” đội trên đầu. Họ đội helmet chỉ để đối phó với cảnh sát chứ không có khái niệm để bảo vệ mình, nên mua thứ rẻ tiền, mà nghĩ lại họ cũng chẳng đủ tiền để mua thứ có chất lượng thật sự nên nhiều khi ngã xuống đôi khi nón còn vỡ ra đâm vào đầu.

Còn những đứa trẻ, theo luật dưới 16 tuổi không bắt buộc phải đội nón nên cứ vô tư một đứa ngồi trước với bố, hai đứa ngồi sau với mẹ mà bà mẹ cứ như trực rớt xuống đường. Chiều xuống cũng là lúc các cặp tình nhân rong ruổi trên đường, nếu có tiền thì vào café ngồi tán tỉnh nhau cho thêm phần lãng mạn, nếu không tiền thì cứ lấy xe chạy vòng vòng qua các con đường ở trung tâm SG để ngắm người, ngắm cảnh và khoe quần áo đẹp. Chẳng biết từ bao giờ, những người trẻ SG đã hình thành cái thói quen chở nhau ra những con đường lớn ở trung tâm rồi lên lề đường đậu một cách hết sức thứ tự, ngồi trên xe ngắm kẻ đi qua người đi lại, âu yếm ôm lấy nhau chẳng màng gì đến cặp bên cạnh vì ai cũng như ai. Có lẽ những người trẻ này cũng đang lợi dụng cái lạnh của SG để có cái cớ chính đáng ôm nhau như thể người kia sắp vụt bay mất.

Khác với xã hội Âu Mỹ, ngày đầu năm là ngày sum họp gia đình ăn uống cùng người thân, ở VN mọi người đổ ra đường như trẩy hội. Đường phố được nhà nước trang hoàng thật đẹp và tráng lệ với đèn đủ mầu sắc, việc này được lập đi lập lại mỗi năm vì thành phố SG là thành phố thương mại lớn nhất nước, do đó rất cần có bộ mặt rực rỡ vào năm mới để khoe vẻ phồn vinh của đất nước, thông qua các cơ quan thông tấn trong và ngoài nước, cho dù đó là phồn vinh giả tạo. Tôi tự hỏi nếu đem cái chi phí lớn lao dùng để trang hoàng đó cho những mảnh đời cơ nhỡ đang lang thang kiếm sống trong thành phố hoa lệ này thì chắc cũng có nhiều người đỡ tủi thân trong ngày đầu năm dương lịch.

Cái cách biệt giầu nghèo trong xã hội Việt Nam ngày càng giãn rộng, người ăn không hết, kẻ lần không ra. Đã có những cán bộ nhà nước đánh cờ ăn thua nhau tới 5 tỷ đồng, trong khi có những người dân lương tháng chỉ 2 hay 3 triệu không nuôi nổi bản thân nói chi tới gia đình.

Ỏ thành phố lớn này, những người có của ăn của để, sống trong những căn nhà tráng lệ mặt tiền đường hầu như chẳng còn biết đến nhau như cuộc sống bên Âu Mỹ. Có khi nhà hàng xóm đối diện có đám tang mà chẳng sang viếng, nhưng khi có cãi nhau hay đánh nhau tranh giành một chút lối đi giữa hai nhà thì hầu như cả con phố ra đường xem. Hình như càng giầu có thì tình cảm xóm giềng càng nhạt nhẽo hơn, hay người ta nghĩ rằng có tiền thì cái gì cũng có, ai chẳng phải phục vụ mình. Chẳng bù tình làng nghĩa xóm trong những ngõ hẻm, họ thương yêu đùm bọc lẫn nhau như trong một nhà. Nhà ai có đám ma, đám cưới là cả xóm xúm lại mỗi người một việc, săn tay lên cùng giúp đỡ. Khi cần chút mắm, chút đường, chút muối chỉ cần “má Tư ơi cho con xin chút đường” thậm chí chút cơm nguội “chị Năm ơi, có cơm nguội cho em xin về chiên ăn cho ngon nhà hết cơm nguội rồi”, ôi sao mà thân tình!

Ngày 1/1, từ buổi sáng tổ trưởng đã đi khắp các nhà trong tổ của mình để nhắc nhở treo cờ, đặc biệt là những nhà mặt tiền đường để đón mừng năm mới. Đó là cái lệ đã thành hình từ sau 1975 vào mỗi dịp lễ tết, ngày quốc khánh, ngày tuyên ngôn độc lập. Tôi vẫn nhớ ở Mỹ sau biến cố September 11th, các xe hơi của dân Mỹ trên đường đều treo cờ để chứng tỏ họ cảm thông với nỗi đau chung của đất nước và ý chí đoàn kết cộng đồng, bao giờ thì chúng ta tiến đến được việc treo cờ là do tự nguyện và tự hào dân tộc?

Ngày 1/1 cũng là ngày chấm dứt các chuyến phà đưa người qua lại vùng Thủ Thiêm, bên kia sông Saigon vì một đường hầm Thủ Thiêm hiện đại đã được xây dựng dưới lòng sông nối hai bờ. Nhưng người đã phục vụ mấy chục năm trên phà, những người khách đi phà mấy chục năm nay, ngậm ngùi đi những chuyến cuối cùng, chụp ảnh cố lưu giữ những gì mà chắc chắn theo thời gian sẽ chỉ còn là ký ức một thời.

Ngày xưa bà ngoại tôi cũng từng sống bên kia bờ sông, hồi đó chỉ là những dãy nhà gỗ tuềnh toàng, bà thich ở đó cùng với gia đình một người họ hàng vì bà bảo gió sông thổi lên làm bà khỏe khoắn. Dù bố mẹ tôi đã nhiều lần đón bà qua ở cùng gia đình tôi trong căn villa do sở cấp cho bố khi bố làm bộ Canh Nông, rộng rãi có đủ vườn tược cây cảnh nhưng cũng chỉ được tối đa một tuần là bà lại đòi về. Tôi vẫn nhớ ngầy xưa mẹ vẫn thường hay sai chúng tôi sang thăm bà, mang tiền và đồ ăn sang cho bà. Ngày ấy còn chưa có phà lớn như bây giờ, chỉ có các con đò nhỏ chèo tay hoặc chạy bằng máy đuôi tôm kêu rầm trời. Ngày đó được sai sang Thủ Thiêm, ai trong anh em tôi cũng thích vì được đi đò, con đò nhỏ mà người ta chất lên đó đủ thứ ngoài con người, xe Mobylette, Sach, Velo Solex…con đò thì thật mỏng mấp mé nước vào và tròng trành khi có tầu lớn đi bên cạnh, thế mà vẫn ro ro chở bao nhiêu chuyến qua lại trên bến Bạch Đằng.

Người già có những ý thích chẳng ai thay đổi được, hồi đó mẹ tôi may cho bà ngoại rất nhiều áo cánh bằng phin nõn trắng và quần "chân què" bằng vải satin đen (quần có đũng là một miếng vải hình tam giác, không mặc bằng thun mà bằng giải rút), thế mà bà cứ lấy đồ cũ ra vá đằng vá chụp để mặc đến nỗi mẹ tôi phải nói “con may cho cụ quần áo mới tử tế cụ cứ mặc quần áo vá người ta không biết lại bảo con không lo cho cụ”. Bà nghe thế nhưng cũng chỉ mặc quần áo mới khi có con cái cháu chắt đến thăm nhưng sau đó đâu lại hoàn đấy. Ngày bà mất thật nhẹ nhàng, chỉ với tay mắc mùng rồi khụy xuống lịm đi và mất. Khi liệm bà, mẹ tôi nức nở bên đống quần áo mới sắp xếp thật ngăn nắp đẹp đẽ trong hai valise nhỏ bà để đầu giường, tôi có cảm tưởng rằng bà tôi đã luôn chuẩn bị sẵn sàng cho một chuyến đi xa với toàn quần áo đẹp.

Như những người đã ở SG lâu năm, dù sinh ra ở nơi khác, nhưng đã chót chọn SG làm quê hương thứ hai, chứng kiến bao đổi thay của SG, tôi vẫn yêu thật nhiều SG trong đó có con sông SG dẫn qua nhà bà ngoại. Thủ Thiêm thân thương với tôi là vì thế, có bà ngoại tôi vẫn vui mừng khi cháu sang thăm và khi tiễn cháu về lúc nào cũng không quên dúi vào tay cháu chút tiền mà con gái vừa tiếp tế cho với lý do là “bà già rồi có tiêu gì đâu, cầm lấy mà ăn bánh, bà không nói với mẹ mày đâu”.

Ngày đầu năm chợt nghe lòng bâng khuâng khi những chuyến phà sẽ được dẹp bỏ vĩnh viễn, đời sống hiện đại luôn làm mất đi những cái mộc mạc đáng yêu của thời xưa cũ. Dòng sông SG từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong dòng chảy kỷ niệm của anh em chúng tôi và những con đò mỏng manh ngày xưa giữa SG hoa lệ đã trở thành một chứng tích trong dòng kỷ niệm đó. Tuổi thơ ơi, bà ngoại ơi….thôi đành hẹn lại kiếp sau nếu có.


Saigon Jan 1st 2012

VẾT XƯA



Đã nhủ lòng thôi đừng nhớ, đã nhủ lòng thôi đừng mơ
Sao nghe tình quay quắt mỗi đêm
Đã dặn lòng thôi đừng nhớ, đã dặn lòng thôi đừng mơ
Sao nghe hoài câu hát yêu người


(Bài hát Đã Nhủ Lòng Tôi – Trần Quang Lộc)


Chưa năm nào mà Saigon mùa mưa dài như năm nay, trời đã bắt đầu sang tháng 12 mà vẫn còn mưa, hôm thì dự báo thời tiết nói là do ảnh hưởng của một trận bão rớt ngoài miền Trung, hôm thì do áp thấp nhiệt đới đang đổ vào miền Bắc.

Những buổi tối trên đường đi dạy học về, khổ nhất là cơn mưa lớn kết hợp với triều cường (tide) vào những ngày mực nước của các con sông dâng lên, những ngày này nước cống rãnh sẽ hòa vào cùng nước mưa làm ngập lụt một số các con đường của Saigon. Chẳng phải chỉ ở những quận nghèo như Gò Vấp hay Bình Thạnh, ngập lụt xảy ra ngay tại Quận I, nơi được coi là khu đất vàng của thành phố. Người ta nói rằng sở dĩ có ngập lụt là vì những khu đất quanh Saigon trước kia là nơi cho nước đổ vào đã được quy hoạch thành các khu dân cư mới như South Saigon (Phú Mỹ Hưng), khi làm nhà người ta phải đổ bao nhiêu triệu m3 đất xuống làm nền nên nước không có chỗ thoát nữa nên quay ngược trở vào thành phố.

Buổi tối dạy học, cả Du và đám học trò đều hồi hộp khi triều cường đã được dự báo, thêm một trận mưa thì cô và trò đều lội lỏm bỏm. Vừa dạy vừa nghe ngóng, vừa học vừa lo sợ mưa to. Từ nhỏ đến lớn, Du chưa bao giờ nghĩ tới việc mình trở thành cô giáo trừ những năm tháng còn làm cho chương trình nhân đạo của International Catholic Migration Commission. Một chương trình được tài trợ bởi chính phủ Mỹ, giúp các thuyền nhân (boat people) trở về từ các đảo, trang bị cho họ một số kiến thức cơ bản để quản lý một doanh nghiệp nhỏ theo khả năng có sẵn, từ đó tái hòa nhập xã hội sau khi bị từ chối bởi các nước thứ ba. Vào thời điểm đó, dạy học là sinh kế, là cơm áo gạo tiền để tồn tại sau những thăng trầm của đất nước. Còn hiện tại, cho đến bây giờ với Du dạy học mới thực sự là tâm huyết, nhìn những em học sinh, sinh viên với tuổi đời còn rất trẻ, hào hứng học và to tròn mắt khi nghe kể về những chuyện đang xảy ra trên thế giới, tự nhiên lòng thấy thương cho các thế hệ trẻ chẳng có một nền giáo dục cập nhật và tốt đẹp.

Đám học trò của Du, đa số là nghèo, có những em là sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ, có em nghèo quá không có tiền đi học, có em cả nhà chỉ trông chờ vào quanh gánh miến gà của mẹ để tồn tại… tất cả đều có chung một nghị lực là chỉ có sự học mới giúp các em thoát khỏi cái nghèo đeo bám từ bao thế hệ. Vài em trong đó được tài trợ bởi một cô bạn TV cùng lớp với Du ngày xưa, một cô bạn vừa làm kinh doanh giỏi ở xứ người vừa tất bật với nhiều dự án từ thiện ở quê nhà. Cũng có em là một đứa trẻ tật nguyền bị sốt bại liệt, tình cờ Du thấy đi ngang qua trường Anh Văn mỗi ngày, dù mưa dù nắng, cũng gập mình lê những bước chân khó nhọc đi và về để mong có chút chữ nghĩa trong đầu, thế là Du đề nghị với anh hiệu trưởng cho em vào học miễn phí.

Học trò VN nói chung ngày nay ngỗ ngáo hơn nhiều so với ngày xưa, nữ sinh lột áo nhau, đánh nhau rồi quay video clip tung lên internet như một chiến công. Nam sinh mới có 14, 15 tuổi đã dùng dao đâm chết bạn. Tuy nhiên những học trò của Du, đa số có lẽ do hoàn cảnh nghèo khó, biết thân biết phận nên chỉ chăm chỉ học hành, lễ nghĩa ngày xưa với thầy cô hình như vẫn còn giữ đầy đủ. Trong lớp khi được yêu cầu phát biểu về một đề tài, dù đây là chương trình đào tạo Anh Ngữ, thế mà các em cũng luôn bắt đầu bằng mấy chữ “Dạ thưa cô....” thay vì vào đề thẳng bằng Anh Ngữ. Dù đã nhiều lần nhắc các em không cần phải nói tiếng Việt như thế nhưng các em vẫn như đã quen với lối nói tôn trọng thầy cô như vậy. Có em ở vùng quê nghèo Cà Mau lên Saigon học, giọng nói cứng nhắc cứ “con cá gô (rô)” hay “đi ga (ra)” cho nên khi phát âm tiếng Anh cũng bị ảnh hưởng rất khó đúng giọng. Nói chung nếu không có kiên nhẫn và tâm huyết thì Du đã không thể đứng vững trên bục giảng này.

Từ lâu thu nhập trong việc dạy học ở VN là rất thấp, nhưng sao Du thấy yêu quý những đứa trẻ đầy chí hướng như vậy. So với thu nhập ngày xưa Du đã từng có khi làm việc cho các công ty đa quốc gia, nhiều người đã khuyên “sao không nghỉ ở nhà cho khỏe, đi dậy học thì được bao nhiêu”. Thật tình mà nói, đôi lúc quá mệt vì nghề bán cháo phổi này, cộng thêm đến khi hết lớp về nhà thì trời đã tương đối tối không an ninh lắm, Du cũng có chút sao lòng nhưng khi nghĩ tới những gương mặt khát khao học hỏi Du lại không nỡ bỏ rơi các em.

Con đướng đi và về của Du ngập tràn kỷ niệm thời niên thiếu, nhà ở gần nữ trung học TV ngày xưa cô theo học nên hầu như ngày nào Du cũng đi ngang qua trường cũ. Không ngày nào mà những kỷ niệm dấu yêu không sống dậy trong cô, kia là cổng trước của trường ngày xưa mỗi giờ tan học bao nhiêu là cây si đứng đợi các em nữ sinh áo trắng, những hàng bò bía, đậu xanh đậu đỏ bánh lọt mà có lần Du đã phải nhờ hai vợ chồng ông Ba Tầu bán xe chè vào giả bố mẹ cô khi Du bị bà Tổng Giám Thị bắt mời bố mẹ lên. Đây là cổng sau của trường, nơi là lãnh thổ độc quyền của “Hoàng Tử Một Mắt”, biệt danh mà ngày xưa bọn nữ sinh vẫn dùng để gọi ông giữ xe hỏng một mắt nhưng cư xử “gắt gao” chẳng kém gì cô Tổng Giám Thị, bù lại vợ ông bà Nụ thì lại hết sức hiền từ hệt như một bà tiên. Cứ em nào cúp “cour” mà định ra khỏi trường sớm trước khi chuông reo, cửa trước thì không thể vì đã bị khóa cứng ngắc, cửa sau thì phải biết rình, chờ khi hoàng tử đang lui cui sửa xe đạp hay chẻ củi thì mới dám mở cửa lẻn ra thật nhanh, vô phúc bị ông ta bắt được thì đừng hy vọng xin xỏ gì vì chắc chắn sẽ bị ông “dẫn độ” lên gặp cô Tổng Giám Thị ngay.

Một buổi tối đang dạy học thì Du nhận được một cú điện thoại gọi tới, do đang bận dạy học nên Du đành để lỡ không bắt máy vì số rất lạ, đến khi về nhà sửa soạn đi ngủ, Du mới sực nhớ ra cái “missed call” lúc nãy và gọi lại. Ở đầu giây bên kia:

“Xin lỗi cho tôi nói chuyện với bà Du ạ” một giọng nói quen thuộc pha chút nghịch ngợm
“Anh Duy phải không?”
“Em khỏe không?”
“Anh về bao giờ vậy?” sao không báo em biết?”
“Anh tưởng em không còn quan tâm”
“Lúc nào giọng anh cũng thế, chẳng thay đổi. Anh về chơi bao lâu?”
“Anh về làm việc lâu dài chứ không chỉ về chơi”
“Làm ở Saigon hả anh?”
“Không anh sê lên làm việc trên Dalat cho một ngân hàng”
“Vậy là anh sẽ ở đây lâu dài?”
“Thì anh đã ký hợp đồng là phải ở đây lâu dài”

Cuộc đời bao giờ cũng có những sắp đặt éo le cho những người yêu nhau, khi mong được gần nhau thì hoàn cảnh đẩy đưa không cho phép. Khi tưởng đã yên ổn và cuộc tình sẽ đi vào quên lãng thì người xưa lại trở về với bao ngổn ngang oan trái.

Như bao nhiêu mối tình đã đi qua trong đời, dù rằng đó là một mối tình lớn, nhưng Du đã quyết định khép lại một thời yêu đương quay quắt để mong tìm lại bình yên cho cuộc sống đã quá thăng trầm của mình. Nói đúng ra thì thinh thoảng hình ảnh người xưa cũng hiện về trong tâm trí, những kỷ niệm xưa đôi lúc cũng dạt dào khi có một chút gì gợi nhớ đến người đã từng chia xẻ những giây phút yêu thương cùng mình, nhưng là một người phụ nữ mạnh mẽ, Du cố gắng chỉ để cho những nhung nhớ xao xuyến thoảng nhẹ trong đầu. Cuộc sống còn quá nhiều điều phải lo toan, đâu có thời gian mà ngồi khóc mãi cho một cuộc tình đã chết.

“Em có viết một câu chuyện về tụi mình, anh có muốn đọc em chuyển cho”
“Dĩ nhiên là có chứ, em chuyển cho anh xem đi, chắc là phải hay lắm?”
“Viết bằng cả máu thịt thì em chắc là phải hay rồi anh nghĩ sao”
“Em chuyển ngay cho anh xem, cám ơn em”

Ngày hôm sau như hẹn, Du chuyển cho Duy câu chuyện Tình Xa mà cô đã viết về cuộc tình của hai đứa qua email. Chỉ sau vài phút, Du đã nhận được hồi đáp của Duy

“Anh đã nhận mail rồi nhe em nhưng chỉ có phần 1 của câu chuyện, viết hay quá!”
Không hiểu tại sao Du vẫn rất thích chữ Duy hay dùng “nhe em”, nghe sao mà nhỏ nhẹ dễ thương
“Hay thật hay anh lại nịnh đấy?”
“ Anh nói thật lòng mà, nịnh em bây giờ để làm gì cơ chứ?, em chuyển nốt phần còn lại cho anh xem”
“Không câu chuyện này dài lắm cho nên em sẽ chuyển từ từ thôi, mỗi tuần một tập cho nó hồi hộp như Sherlock Holmes vậy!”
“Em vẫn luôn làm khó anh như lúc trước”
“Đúng rồi bây giờ em còn khó khăn hơn trước nhiều”
“Hôm nào hai anh em mình đi uống café nói chuyện nhé”
“OK khi nào rảnh gọi em, bye anh”
“Bye em!”

Du không biết mình nên buồn hay nên vui, lâu nay người bạn trai mới, Bách, đã rất tử tế chiều chuộng và chăm sóc cô nhưng thú thật hình như lòng cô vẫn còn một ngăn đặc biệt nào đó cho Duy. Du không muốn phá vỡ cái khung cảnh bình yên mình đang có, hình như cô đã bước đến cái tuổi mà người ta rất sợ có sự thay đổi trong tình cảm. Du cũng không muốn sắp xếp tình cảm của mình thành nhiều ngăn riêng biệt nhưng Duy lại về đây, dù sẽ ở xa cô hàng trăm cây số, biết cô có giữ vững lòng mình trước một mối tình xưa cũ nhưng quá lớn như mối tình cô giành cho Duy.

Hai hôm sau Duy email cho cô và hỏi “em ơi, bây giờ mới tập 2, vậy còn bao nhiêu tập nữa hả em”
“Còn 4 tập nữa, thôi để em gởi hẳn cái link cho anh khi nào anh có thì giờ thì vào xem. Trong đó có cả nhạc đệm và lời bàn của độc giả nữa nên sẽ thích thú hơn”
“OK em, anh chờ xem đấy”.
Ngay buổi chiều, Duy gởi mail
“Em có thể thành nhà văn rồi đấy, không cần phải làm Op Director nữa đâu”
“Mà anh đọc hết chuyện chưa? Đọc xong chẳng có comment gì hết vậy, nhất là mình lại là nhân vật chính”
“Anh đã nói là hay lắm và em có thể chuyển nghề thành viết văn được rồi, thế chưa đủ sao? Anh đã đọc hết chuyện đó định đọc chuyện tiếp nhưng lại thôi…”
Duy bỏ lửng ở đó và giọng điệu có vẻ hơi hờn dỗi, hóa ra câu chuyện kế tiếp là câu chuyện Du viết về người bạn hiện tại của mình, thôi thì như thế cũng tốt, để tế nhị báo cho Du biết rằng hiện giờ cô cũng có bạn và cũng chẳng muốn lại bước tiếp những bước đi trắc trở cùng Duy.

Tuy nghĩ thế nhưng tim Du chợt nghe xót xa, trời đất sao lại oái oăm thế, thật lòng Du chẳng muốn gặp lại Duy, thậm chí chẳng muốn nhớ tới anh. Trong khi Du muốn quên đi tất cả, không muốn một hình ảnh nào dù là nhỏ nhất gợi nhớ đến Duy thì chính anh lại về đây khi cuộc đời cô gần như đã ổn định sau bao ngày sóng gió.

Mỗi ngày đi dạy học về Du vẫn đi ngang qua con đường Nguyễn Hữu Cảnh mới mở, quẹo vào Nguyễn Bỉnh Khiêm để về nhà mình. Đây là con đường thật lớn để nối xa lộ thẳng ra Lê Thánh Tôn, quận I mà không phải vòng tới Hàng Xanh vào Thị Nghè. Con đường song song với Bason là xưởng đóng tầu ngày xưa, người ta đã cắt một phần sở thú ra để làm con đường này. Ngày xưa các nàng TV chỉ đi bộ đến cuối đường Nguyễn Bỉnh Khiêm là hết, nhưng bây giờ cuối con đường đã được ăn thông với đường mới mở (Nguyễn Hữu Cảnh) để dắt thẳng ra Lê Thánh Tôn, Saigon thật tiện lợi. Du chợt có một ý nghĩ ngộ nghĩnh trong đầu “phải chi ngày xưa đã có con đường này rồi thì các cây si sẽ bối rối chẳng biết em về ngõ nào mà chặn đường và mình cũng sẽ chọn đường này để tránh các cặp mắt “đáng ghét” của các anh Võ Trường Toản cứ nhìn chòng chọc vào người khi đi ngang qua con đường độc đạo này để về nhà. Du mỉm cười với ý nghĩ đó trong đầu.

Con đường rộng thênh thang, buổi tối trên đường đi dạy về, Du vẫn thấy các cô gái bán hoa, tuổi chỉ khoảng 15 hay 16 gì đó, càng ngày tuổi của các cô gái lại càng được trẻ hóa, các cô không đứng một chỗ để bắt khách vì dễ bị phát hiện và bị bắt. Phương pháp mới là các cô sẽ thuê xe gắn máy, mặc những chiếc áo như không mặc trên người, và phóng xe qua lại trên đường phố để kè theo các chiếc xe gắn máy của phái nam, già trẻ đều được gọi bằng anh, và rủ rê đi chơi.

Buổi tối nay trời lại mưa, mưa tầm tã, mưa hắt vào mặt đến nỗi không thấy đường đi. Mọi người dạt vào những căn nhà hai bên đường hay đậu xe dưới gầm cầu để trốn mưa, những khi mưa to đi không được vì không thấy đường rất nguy hiểm, mà trú cũng không yên vì sau một lúc mưa to nước sẽ ngập lên tới ống bô của xe và xe sẽ chết máy không đi được phải dẫn bộ. Mà dẫn bộ khi trời tối thì cũng chẳng an toàn gì cho phụ nữ, thật là tiến thoái lưỡng nan.

Dưới một mái hiên nhà, hai vợ chồng trẻ đang đứng núp mưa cạnh Du. Dù đã lấy cả tấm thân mình che chở cho vợ đang mang bầu, hình như người chồng vẫn chưa yên chí vì sợ mưa hắt vào vợ mình và vẫn cố nhoài người ra che chắn thêm cho cô vợ trẻ. Mé bên kia có lẽ là một cô gái bán hoa, son phấn nhòe nhoẹt, quần áo thật hở hang, đưa hết cả da thịt ra, cô đứng run lập cập dưới hiên nhà, nước hắt vào mặt, vào cả tấm thân gầy gò nhỏ bé của cô. Mọi người chòng chọc nhìn cô, lộ rõ vẻ khinh bỉ, nhưng dưới mắt Du, cô chỉ thấy tội nghiệp cho cô ta. Có người phụ nữ nào chẳng muốn lấy chồng, có con tử tế, có người phụ nữ nào chẳng muốn một mái ấm gia đình. Nhưng ông trời không chiều lòng tất cả mọi người, cái phần số của mỗi người đã được định sẵn chẳng cưỡng lại được, Du nghĩ thế. Du xích qua một chút và nói “em đừng xích vào đây không ướt hết”, cô ta có vẻ cảm động khi được để ý tới và trả lời giọng đặc sệt vùng sông nước Cửu Long “dạ hỗng sao, dzậy được gồi chị”. Hai hình ảnh, hai mảnh đời tương phản của hai số phận đàn bà mà Du chứng kiến trong một đêm mưa, một người đang hạnh phúc âu yếm bên chồng, người kia mang danh nghĩa xấu xa phải chấp nhận tất cả mọi giống đực, bất kể tuổi tác, giai cấp xã hội, chỉ với mục đích duy nhất là lấy được đồng tiền và nhờ đó mà tồn tại. Và biết đâu chừng, còn phải gởi tiền về quê nuôi cha mẹ già nghèo khó.

Trời đã tạnh mưa và mọi người lục tục chuẩn bị nổ máy xe ra về, cơn mưa lớn đã gột sạch những bụi bậm, những rác rưởi của con đường. Biết bao nhiêu điều phức tạp ở xã hội này, mãi dâm và cướp giật gia tăng, tai nạn giao thông dồn dập, mới hôm qua thôi, cũng trên con đường này một gia đình 4 người gồm có mẹ, ông ngoại và hai con trai đang đi trên một xe hơi đã bị một xe đi chiều ngược lại đâm sầm vào do tài xế say rượu, 3 người trong gia đình chết ngay tại chỗ, một đứa trẻ mất sau đó vài giờ trong nhà thương. Người chồng đang đi công tác nước ngoài ngỡ ngàng trở về nhận xác vợ con, thế là tan nát cả một gia đình khi mùa lễ hội đang tới.

Người ta nói “sau cơn mưa trời lại sáng”, đến bao giờ thì những phận đời như cô gái bán hoa kia thôi bị bầm dập và đến bao giờ người đàn ông vừa có vợ con chết thảm trong tai nạn giao thông kia tìm lại được ổn định cho tâm hồn mình. Chợt nhớ tới lời của ông chồng của một cô bạn đã nói với Du nhiều lần “anh không hiểu tại sao đủ thứ nguy hiểm như thế nhất là đi ngoài đường dễ bị tai nạn giao thông mà em vẫn thích ở VN dù có giấy tờ định cư ở Mỹ”, chính bản thân Du cũng không hiểu điều gì đã níu kéo mình ở lại với mảnh đất này dù bao nhiêu bạn bè cũ đã ra đi tứ tán, phải chăng là những kỷ niệm xưa vẫn còn phảng phất đâu đây chưa thể phai nhạt?





*** TRANH VE CUA LIEN HUONG TV 63-70