Tuesday, 23 October 2012

CHỊ SOÁT


Hôm nay chủ nhật, ngồi buồn nhìn ra ngoài trời mưa rả rích, hầu như cả tuần nay ngày nào trời cũng mưa xối xả. Theo triền thuyết thì tháng này là tháng mưa ngâu nên trời đất tràn ngập nước mắt khóc than của Chức Nữ khi chỉ gặp gỡ Ngưu Lang mỗi năm một lần. Chợt nhớ tới chị Soát, Hà lấy điện thoại ra gọi, đầu giây bên kia không còn là giọng thều thào của chị nữa mà là của bà cụ mẹ chị, báo tin chị đã mất tuần qua.

Hà biết trước rồi thế nào cũng đến ngày này mà sao vẫn thấy nhói lòng, bà mẹ nói rằng khi chị mất chị có căn dặn không được báo tin cho ai trừ anh em trong gia đình, ai tình cờ biết được thì ghé thôi. Chị không muốn làm phiền đến những người bạn đang rất bận rộn kia.

Chị Soát không phải bà con thân thích, cũng không phải bạn học của Hà, chị chỉ là một người bạn hàng ngoài chợ vào cái thời kinh tế khó khăn, sau 75 nhà nào cũng khốn cùng phải ra chợ trời kiếm sống. Người thì bán vải, người bán mỹ phẩm và người thì thuốc tây lậu. Hà thân với chị vì chị là người hiền lành tử tế, chị có một quầy bán mỷ phẩm tại chợ Tân Định. Nói là mỹ phẩm cho oai chứ thật ra hàng hóa hồi đó chỉ là vài hộp phấn của Thái Lan, nước hoa thì đong bán lẻ theo từng cc, vài cái kẹp tóc lòe loẹt sặc sỡ.

Chị Soát không có gia đình, chị sống với một bà mẹ già, gia cảnh cũng chẳng khó khăn vì đa số các em chị đều đã vượt biên thành công sang Mỹ và hiện khá thành công ở xứ người. Tính tình lạc quan vui vẻ và nhất là rất “dĩ hòa vi quý” nên bạn hàng trong chợ ai cũng thương mến.

Hà thì hoàn cảnh hoàn toàn khác chị, lập gia đình có một con gái, chồng đi học tập cải tạo nên cũng phải lăn lộn chợ trời kiếm sống trong những ngày đất nước đảo điên. Ngày ấy, cái gì cũng là lậu, vải vóc, mỹ phẩm “lậu” còn được đóng phạt mang về chứ thuốc tây thì chỉ có nước bị tịch thu hẳn. Với chút vốn liếng ít ỏi, Hà cũng lăn xả ra chợ để buôn bán thuốc tây nuôi con. Những ngày gian khổ đó Hà chẳng bao giờ quên được, thuốc được cất giấu trong người, trong cạp quần, trong “soutien”, trong một ống vải may túm hai đầu ở bắp đùi. Mỗi khi giao hàng thì mắt trước mắt sau sợ công an và quản lý thị trường bắt thì tất cả sẽ bị tịch thu và người buôn có thể cả tháng chưa lấy lại vốn, còn hàng hóa tịch thu được thì không biết sẽ phiêu bạt nơi nào.

Thương cảm hoàn cảnh của Hà, chị Soát vẫn hay cất giấu thuốc tây hộ cô, dù sao thì giao hàng ở quầy hàng của chị vẫn an toàn hơn nhiều so với giao trong quán café vì những kẻ “săn mồi” sẽ tưởng đó là hàng mỹ phẩm. Cứ thế ngày qua ngày, chị luôn giang tay giúp đỡ Hà trong việc buôn mặt hàng “quốc cấm” đó, những bọc thuốc tây được gói đẹp đẽ như những gói quà để lẫn lộn trong đống hàng hóa của chị Soát. Dù biết việc giấu diếm này rất nguy hiểm không chỉ cho bản thân chị mà còn cho cả “nồi cơm’ của gia đình chị lúc bấy giờ.

Rồi thời cuộc dần thay đổi, những đứa em chị từ từ vượt biên sang được nước ngoài, còn Hà với chút học vấn và vốn tiếng Anh cũng kiếm được một việc làm cho một tổ chức nhân đạo của Mỹ. Cuộc sống dần khá hơn, sau nhiều lần được sự thuyết phục của các người em ở nước ngoài, chị Soát mới đồng ý sang lại quầy bán mỹ phẩm và ở nhà rong chơi thong thả, thay các em phụng dưỡng mẹ già.

Hai chị em tình xưa nghĩa cũ, dù đã nghỉ bán hàng nhưng Hà vẫn hay đem xe tới rủ chị đi chơi. Lúc thì hai chị em cùng một đám bạn mua quà bánh đi thăm đám con nít mồ côi, khi thì đọc báo kiếm những hoàn cảnh khó khăn khổ sở để ghé thăm với chút quà và món tiền nhỏ. Chị Soát đặc biệt thích đi tiết mục “hát cho nhau nghe”, giọng chị không đặc sắc nhưng nhẹ nhàng dễ thương, chị chẳng bao giờ chưng diện nhiều dù ngày nay hoàn cảnh đã cho phép, cứ chiếc áo “chemise” hay áo kiểu và cái quần tây đen giản dị, chị thản nhiên gia nhập một đám bạn “model” đủ kiều. Chị có thật nhiều bạn bè, ai cũng giầu có nhưng rất yêu quý và trân trọng chị. Cứ hai tháng lại nghe chị đi chơi, khi thì Đà Lạt, khi Nha Trang khi Phan Thiết.

Những ngày thanh thản nhất trong cuộc đời chị đang trôi đi nhẹ nhàng thì ông trời rắn mắt bắt chị ốm đau. Một ngày sau khi đi chơi cùng đám bạn về, chị thấy mệt mỏi cứ nghĩ chỉ là vì uống ly cà phê sữa đá nên đầy bụng không ăn cơm được, có đâu biết rằng đó là khởi đầu của căn bệnh sơ gan cổ trướng mà chẳng lâu sau đã biến chị từ một người khỏe mạnh hoạt bát yêu đời sang một thân hình gầy còm tiều tụy, chỉ duy nhất tinh thần lạc quan là chị còn giữ được dù biết mình bị chứng bệnh nan y.

Nghe lời một cô bạn thân, cứ ngày ngày sắc thuốc nam uống. Cô bạn thương chị, đến ở hẳn nhà để mỗi ngày chăm sóc và sắc thuốc cho chị, được hơn một tháng bệnh không thuyên giảm mà người chị thì vàng khè như bôi nghệ. Rốt cuộc khi vào nhà thương, bác sĩ bảo gan chị đã bị chai cứng và sơ hóa chỉ còn hoạt động 10% thôi. Gia đình chị trách móc cô bạn thân đã cứ khuyến khích chị uống thuốc nam trong khi bác sĩ nói nếu vào bệnh viện sớm thì còn hy vọng chứ đến nước này thì bó tay rồi, nhưng chị nói “họ có thương mình thì mới bỏ hết công việc đến đây để chăm sóc mình chứ, thôi thì cũng là cái số trời định”. Biết làm sao được, còn nước còn tát, bác sĩ nói thế và chị vẫn lạc quan, chẳng hiểu vì không muốn người thân lo lắng hay vì chị thật sự không sợ hãi trước cái chết.

Những ngày chị nằm nhà thương bạn bè ra vào thăm hỏi nườm nượp, thậm chí khi chị hơi khỏe lên một chút, có người còn mang xe vào nhà thương đón chị đi hát. Chị vẫn tham gia các cuộc vui nhưng giọng hát thì yếu đi nhiều. Trong nhà thương, những người mới bị bệnh giống chị than khóc thảm thiết, chị lại luôn là người khuyên nhủ củng cố tinh thần họ.

Chị nằm bệnh viện rồi lại về nhà, cứ ra rồi vào như cơm bữa, tinh thần vẫn lạc quan vui vẻ. Hà hỏi chị “chị còn tiếc gì không?” thì chị trả lời “chỉ tiếc là lúc này tài chính cũng đỡ, để giành tiền định đi chơi nhiều nơi nữa mà chắc không thực hiện kịp rồi”. Hà gởi các BS là học trò lớp Anh Văn của cô trông nom săn sóc chị cho chu đáo hơn, các cậu này cũng nói “trong cuộc đời BS của con, con chưa thấy bệnh nhân nào mà lạc quan yêu đời như cô Soát, cô cười giỡn luôn miệng làm cho các bệnh nhân xung quanh bớt lo lắng hơn”.

Hà biết chắc chắn một ngày không xa rồi chị sẽ ra đi nhưng không thể túc trực bên chị mà chỉ thỉnh thoảng ghé hoặc điện thoại thăm chị. Từ một người cao lớn khỏe mạnh, chị giờ như một bộ xương với cái bụng to kềnh, hình ảnh của chị chẳng khác gì vẻ tiều tụy của một bà bầu bị suy dinh dưỡng. Những tuần đầu ghé thăm, chị còn tươi tỉnh nói chuyện tiếu lâm, nhưng vài tháng sau thì chị thật sự suy kiệt, chị thều thào dăm ba câu rồi như muốn đi nghỉ.

Hôm nay chị đã đi thật xa, Hà chợt sợ những cú điện thoại mang tin xấu. Trời đất SG chưa bao giờ mưa tầm tã như thế, mưa như khóc than cho một người quen đầy lòng nhân ái, bao dung với mọi người.

Sáng nay đi tập yoga sớm, trên con đường Huyền Trân Công Chúa rợp bóng cây, Hà như chợt thấy ở cuối con đường có hai hàng cây cao vút chụm đầu vào nhau, chị đang bước đi thanh thản nhẹ nhàng với mái tóc dài thuôn mượt. Chị Soát ơi, xin chị đừng buồn vì ai, cho dù thế nào, rồi cũng sẽ đi về cuối con đường đó cùng chị …….

Saigon Sep 29th 2012

DẤU YÊU ẤP Ủ

Kỷ niệm cho dù có đau hay có đẹp cũng đều êm đềm và đáng nhớ

Như thông lệ đôi khi cuối tuần rảnh rỗi Huyên vẫn ngồi xếp lại những đồ vật của mình, như hầu hết những người phụ nữ khác mua sắm thật nhiều nhưng chẳng bao giờ sử dụng tất cả những thứ đã mua. Biết rằng các đồ vật vô tri vô giác kia chẳng có “cảm giác” gì nhưng Huyên luôn có ý nghĩ rằng nếu bị bỏ quên không được đụng đến chắc hẳn chúng sẽ rất buồn. Vì ý nghĩ đó, cho dù bị nhiều người chê là vớ vẩn, Huyên vẫn cố gắng sử dụng chúng một cách luân phiên.

Huyên lên danh sách giày dép, nữ trang, đồ bơi, đồ tập yoga, xách tay để nhìn vào đó mà sử dụng chúng từ từ. Khi kể cho lũ bạn nghe chúng vẫn lên án “mày rảnh quá!” và cô chỉ cười khì. Tính Huyên thích mua sắm, cô là người rất rành rẽ trong việc mua sắm nên luôn mua được những mặt hàng “sale” nhưng tốt, hợp thời trang với giá rẻ, chưa kể còn thừa hưởng từ con gái bao nhiêu là đồ “dư” mà nó bỏ đi. Vì lẽ đó các bạn và các đồng nghiệp của cô khi đi mua sắm luôn muốn Huyên đi cùng vì họ cứ nghĩ với cái “taste” của cô họ sẽ không mua đồ một cách bốc đồng để lại không dùng được.

Ngôi nhà của Huyên dù còn vài phòng bỏ trống nhưng hầu như cũng chưa đủ để cất giữ đồ đạc. Đôi lúc Huyên cũng bực mình vì cái tính của mình, cứ thương tiếc những món đồ cũ mà không chịu rời xa vì với cô hầu như món đồ nào cũng chất chứa một kỷ niệm gì đó. Kìa là chiếc áo trắng mặc đi làm ngày đầu tiên cho một công ty ngoại quốc sau những tháng ngày lăn lóc khổ sở ngoài chợ trời vì tình hình chung của đất nước, rồi đến chiếc váy mầu thiên thanh đã từng cùng cô tận hưởng những buổi hẹn hò thơ mộng ở một chân trời khác….

Huyên dành hẳn một chiếc tủ để cất giữ những kỷ vật và thư từ từ thời con gái tới giờ, bức thư tỏ tình đầu tiên từ một người bạn trai gởi từ xứ Đà Lạt mộng mơ, ở tuổi mới lớn anh ta đã không dám nói gì cho tới khi dời đi Đà Lạt học mới dám viết thư tỏ tình. Lời viết ngây ngô trẻ con dễ thương đến nỗi bây giờ mỗi khi đọc lại cô vẫn không khỏi buồn cười “nếu em không thích thì cứ coi đây như là một cơn gió thoảng qua hãy bỏ đi và đừng nên giữ lại làm gì…” hay một bức thư giận dỗi của một người yêu cũ thời cô đang học bậc cuối trung học “kể từ ngày hôm nay tôi không còn cảm thấy yêu Huyên nữa…” và còn biết bao thư từ hình ảnh ngày xưa ghi dấu một thời con gái mộng mơ vẫn còn đây.

Huyên hồi tưởng lại những ngày mới lớn, ngày đó cuối tuần nếu người yêu không rủ đi chơi là lòng cô thật buồn, suy nghĩ lung tung chẳng biết giờ này chàng đang làm gì, ở nhà với gia đình hay lại đang hẹn hò với người khác. Thời của cô, các cô gái chẳng dám ghé nhà bạn trai chơi vì sợ bị đánh giá là bạo dạn, mỗi khi nhớ người yêu, cô lén lút đi Honda ngang nhà và lấm lét ngó vào nhưng chỉ mong đừng gặp người ấy. Có một lần, Huyên đang cong đít lên nhìn cái bảng đồng trước cửa nhà người yêu thì anh về, không biết trốn ở đâu và cũng chẳng trả lời được khi anh hỏi “em làm gì ở đây thế này?” đành phải trớ đi “em đang kiếm nhà bạn của bố em để đưa thư cho bố” mà người cứ run lên bần bật vì nói dối.

Người đó sau này trở thành chồng cô và cô đã thú thật rằng là con gái mới lớn cô luôn ở tư thế “phòng thủ” như lời mẹ dặn dò nên khi anh nói nhà anh ở đó Huyên đã ghé lại xem cái bảng đồng ghi tên chủ nhân tòa nhà đó có cùng họ với anh không? Cũng với mục đích “phòng thủ” mỗi khi đi “bal de famille” cô luôn đi cùng một nhóm bạn mà không bao giờ dám đi riêng với bồ mình, ngày đó bọn cô được bố mẹ và xã hội giáo dục rằng cái quý nhất của đời con gái là sự trinh trắng nên lúc nào cô cũng nơm nớp lo sợ bị kẻ xấu “hãm hại” nên đi đâu thường cũng phải có “chaperon”, khi thì cô bạn khi thì đứa em gái. Khi đến tiệc, bao giờ nhóm cô cũng cử một người bạn uống nước trước, nếu người đó OK thì cả đám mới dám uống.

Những lúc nhảy đầm cũng thế, cô luôn giữ một khoảng cách không cho bọn con trai ôm chặt để lợi dụng. Lúc ấy thật hạnh phúc nếu được nhảy với người mình thích, người con trai lịch sự với bờ vai rộng đàn ông và miệng cười thật tươi tắn duyên dáng. Trái lại khi nhận lời nhẩy nhằm những anh chàng không lấy gì làm “tử tế” cứ cố ghì sát mình vào người, cô chỉ ráng cương người lên để đẩy ra mà chẳng dám nói gì, bây giờ nghĩ lại phải chi bây giờ chuyện ấy xảy ra thì mình đã nói thẳng vào mặt “anh vui lòng đứng đắn một tí”.

Huyên nhớ lúc mới lớn khi bắt đầu biết rung động bởi người khác phái, đối diện nhà cô có một anh rất là to cao và đẹp trai, mỗi ngày khi Huyên mặc áo dài trắng đi học về anh luôn cố tình bắc ghế ngồi trước cửa nhà để hai người nhìn thấy nhau, lúc ấy Huyên đâu có dám nhìn mà cứ cắm cúi bước đi chỉ sợ chân vướng vào chiếc quần trắng mà ngã. Tuy nhiên vào đến nhà mình, Huyên đã núp sau một khe hở ở khung cửa sổ để theo dõi anh, mẹ có lúc bắt gặp đã hỏi “Huyên rình ai thế con? vào ăn cơm đi còn đi học thêm” làm cô giật mình nhưng cô cũng kịp thông mình để trả lời mẹ “con rình con chó hàng xóm cứ sang làm bậy ngay nhà mình”. Nhưng rồi bố Huyên hết làm bộ Canh Nông và gia đình cô dời nhà đi chỗ khác mà cả hai người chưa nói được với nhau điều gì và mối tình bằng mắt đó rốt cuộc chỉ là mối tình “câm”.

Lớn hơn chút nữa, những lần giận hờn với người yêu, tự ái con gái không cho phép cô làm lành trước, Huyên đã từng bốc máy điện thoại lên gọi đến nhà chàng và chỉ đợi nghe được hai tiếng A LÔ của chàng là Huyên cúp máy, cảm giác hồi hộp sợ chàng biết nhưng thật là thích thú.


Ngày xưa khi mới lớn Huyên vẫn nghĩ chắc khi lấy chồng có con là coi như xong, như hết cuộc đời, hết mơ mộng.. trước ngày lên xe hoa về nhà chồng Huyên đã phải đem bao nhiêu là hình ảnh và kỷ vật gởi cho một người bạn gái thân thiết nhờ cất giữ hộ với lời dặn dò phải hết sức cẩn thận giùm cô. Tuy nhiên sau khi cuôc hôn nhân đầu đời và duy nhất đổ vỡ, cô đã mang tất cả về nhà cất giữ và ấp ủ chúng cho đến bây giờ.

Đến tuổi này cô thật sự muốn có một cuộc sống thanh thản yên bình và trái tim thôi không thổn thức, như một người bạn đã nói “sướng nhất là khi mình không còn yêu ai và không còn bị tình cảm chi phối làm cho mình hờn ghen, giận dỗi… mệt lắm.” nhưng có thế thật không, Huyên tự hỏi và “típ” người như cô liệu có chấp nhận một cuộc sống yên bình không gợn sóng, hay sẽ cảm thấy nó hết sức đơn điệu?

Những mối tình ở tuổi gần cuối đời sao vẫn luôn ám ảnh cô, làm cô ray rứt khôn nguôi. Bức thư từ Canada với chiếc lá “maple” khô vàng, kỷ niệm một mối tình thơ mộng nhưng đầy sóng gió đã qua. Cho dù ngày nay công nghệ phát triển, Huyên vẫn thích và vẫn có thói quen gởi thư viết tay cho người yêu dù điều đó có thể mất thời gian tính khi người bên kia nhận được, nhưng chẳng sao trong tình cảm có gì phải hối hả đâu, cô luôn tự nhủ như thế.

Càng già người ta hình như lại càng sống với những kỷ niệm của thời xưa cũ, chẳng những trân quý những vật kỷ niệm của riêng mình, Huyên còn dành hẳn một ngăn để cất những kỷ vật một thời của cô con gái mình. Cô dự định một ngày nào đó sẽ đưa cho con gái và chắc hẳn nó sẽ ngạc nhiên và thích thú lắm với sự việc này. Huyên tỉ mỉ xếp lại từng con búp bê một thời đã là những kỷ niệm dấu yêu của con gái thuở học trò, cô vẫn thích nhất cái khung hình cô con gái mặc áo dài trắng e lệ đứng núp sau lưng một tên bạn học trong đồng phục quần xanh áo trắng sao mà ngây thơ, thánh thiện đến đáng yêu.

Huyên vẫn thường nói với con gái mình “con ơi, nếu có chia tay thì cũng đã có một thời yêu thương quấn quit, con đừng vứt bỏ những đồ vật kỷ niệm vì đến một lúc nào đó con sẽ thấy chúng rất quý”. Mặc cho Huyên thuyết phục, giảng giải, cô con gái, với tình bồng bột nóng vội của tuổi trẻ, vẫn sẵn sàng vứt bỏ những gì mà nó cho rằng đã trở thành “quá khứ”. Đã có lúc Huyên còn phải lén lút nhặt trong thùng rác ra một con búp bê lem luốc bị vứt bỏ , đem vào tắm gội cho trắng trẻo sạch sẽ và lại lụi hụi cất đi. Khi nghe cô người làm kể chuyện lại, cô con gái đã càu nhàu “mẹ ơi, mẹ lẩm cẩm quá, con đã vứt đi mẹ nhặt lại làm gì cho mất công?”. Cứ thế, các kỷ vật của con gái cũng được Huyên cất giữ cẩn thận như chính những kỷ vật của cô vậy.

Cuộc đời cứ thế lặng lẽ trôi, tóc trên đầu ngày càng bạc hơn, kỷ niệm thì chất chồng theo những nếp nhăn trên khóe mắt. Những buổi chiều mưa Saigon, ngồi trong quán café một mình, đôi khi cô giật bắn mình như bắt gặp một hình bóng quen thuộc, nhưng định thần lại thì đó chỉ là một người hoàn toàn xa lạ. Cô ngồi đó hồi tưởng lại bao nhiêu sự việc đã qua thấy lòng lâng lâng buồn, như đa số những người con gái khác, cô đã đi qua chiếc cầu định mệnh của thân phận đàn bà, lấy chồng, sinh con, chia tay, cô đơn….

Nơi chốn cũ này chỉ còn mình ta ngồi đây, ôn lại những gì đã xảy ra trên mảnh đất này, cảnh cũ mà người xưa đâu mất cả rồi? bạn bè đã tản đi khắp bốn phương trời, người vui vẻ hạnh phúc khỏe mạnh, người không may mắn gia đình tan vỡ giờ sống lẻ loi một mình, người giờ đã thành thiên cổ chẳng còn gặp lại. Mưa đã bớt nặng hạt, Huyên gọi tính tiền rồi ra khỏi tiệm café, đi trong những giọt mưa nhẹ nhàng của Saigon, cái thú đi dưới mưa từ ngày xưa cô vẫn giữ mãi đến tận bây giờ, lòng chợt tự hỏi bao giờ thì đến lượt ta?

Saigon chiều mưa Oct 21st 2012

GIVRAL






Hình ảnh Givral của những ngày xưa cũ


Chỉ khi bắt đầu thành thiếu nữ và bắt đầu biết hẹn hò, tôi mới biết tới các quán café nổi tiếng của Saigon là Givral và Brodard. Hồi đó còn là học sinh và ngay cả khi đã là sinh viên trường luật, tiền bố mẹ cho ăn xài cũng có giới hạn, lại thêm quan điểm xưa cũ là con gái không vào quán café một mình nên tôi cũng chẳng tốn tiền nhiều tiền để vào những nơi đó, những nơi được coi là xa xỉ đối với tuổi học trò chúng tôi. Tuy nhiên tôi chắc chắn rằng, đó không chỉ là nơi chốn kỷ niệm của riêng bản thân tôi, mà Givral và Brodard cũng đã nằm trong ký ức của rất nhiều người Saigon xưa.
Khi bắt đầu có bạn trai thì những quán café đó đã trở thành một phần không thể thiếu của những buổi hẹn hò, trong hai quán thì nếu được chọn lựa tôi vẫn thích Givral hơn, và nếu tôi nhớ không lầm thì Brodard ngày ấy dân tình vào đó trông “wild” hơn những thành phần ngồi ở Givral.


Brodard vẫn ở chỗ cũ nhưng đã thay đổi tên thành Gloria Jeans


Mỗi khi bạn trai hẹn ở Givral, tôi luôn đến trễ hơn giờ hẹn, đó cũng là thói quen của con gái chúng tôi ngày ấy, thứ nhất để tỏ ra “õng ẹo” đôi chút, thứ hai để chắc chắn là anh người yêu mình đã ngồi sẵn trong đó và sẽ đứng lên ra cửa đón cho khỏi bỡ ngỡ thẹn thùng.

Khi hẹn hò ở Givral, tôi luôn dặn người yêu “anh nhớ đến sớm, chọn chỗ ngồi nhìn ra đường Tự Do” (nay là Đồng Khởi) nhìn qua khách sạn Continental vì sao tôi vẫn thấy cảnh vật phía đó vẫn lãng mạn và đẹp đẽ hơn phía bên Nguyễn Huệ xô bồ. Và không biết để chiều lòng tôi, anh đã đến sớm trước bao nhiêu tiếng đồng hồ để rốt cuộc bao giờ cũng có chỗ tốt nhìn ra con đường sang trọng bậc nhất Saigon hồi ấy.

Món nước uống yêu thích và cố hữu của tôi khi vào Givral luôn là “café liegeois”, ly café khá đậm đặc với kem chocolate phủ đầy ắp, chỉ ngọt vừa đủ sao mà hấp dẫn. Nếu đói bụng có thể gọi bánh “croissant” hay “pate chaud” để khi được mang ra vẫn giòn tan nóng hổi. Dù đôi lúc hẹn hò vào buổi chiều tối, tôi vẫn yêu thích “café liegeois” và hậu quả là tối đó không tài nào nhắm mắt ngủ được nên cứ nằm vơ vẫn nhớ mãi buổi hẹn hò chiều đó. Tôi thầm nghĩ nếu anh biết được chắc hẳn sẽ thích thú lắm và sẽ luôn hẹn tôi vào buổi chiều tối.

 
Givral được "remodel" một thời gian trước khi bị phá hủy


Rồi thì biến cố 1975 xảy ra, bạn bè dần dần tản đi tứ tán, người yêu rồi cũng không biết về phương nào. Cuộc sống chán nản và thực tế phũ phàng khiến tôi chẳng còn mơ mộng nổi với nỗi lo cơm áo gạo tiền, với người chồng trong lao tù cộng sản. Phải đến hơn chục năm tôi hầu như quên mất sự hiện hữu của Givral và Bordard, cho đến khi may mắn tìm được việc làm với các cty ngoại quốc, do sự giao thiệp tôi mới trở lại Saigon tìm lại những quán café ngày xưa một thời kỷ niệm.

Ngồi trong Givral để nói chuyện về các dự án, các chương trình tài trợ mà đôi lúc tâm hồn cũng bay bổng khi chợt nghĩ về một bóng hình xưa cũ đã cùng ta chia xẻ những ngày thơ mộng êm đềm của thời tuổi trẻ, giờ này người đó ở đâu, làm gì, có được hạnh phúc thanh thản trong cuộc sống?

Cứ thế Givral tiếp tục đón khách thập phương, vẫn có “café liegeois”, bánh “pate chaud”, bánh “croissant” ngon lành nóng hổi mà mỗi khi cắn vào vụn bánh rơi lả tả trên người cùng mùi bơ thơm nồng thoảng ra. Một ngày đọc báo tôi nhận được tin “mảnh đất vàng” bao gồm Givral, Passage Eden nơi ngày xưa tôi vẫn được mẹ dắt vào mua sắm, sắp bị phá đi để xây dựng một khu “complex” sang trọng. Người Saigon lâu năm không ai là không bàng hoàng vì một quán café trong lòng SG đã bao nhiêu năm sẽ bị phá bỏ, bạn bè hối hả rủ nhau đi chụp những bức hình cuối cùng của Givral mà lòng bồi hồi nuối tiếc.

Givral được quây kín bởi các tấm bạt chuẩn bị đập bỏ


Người bỏ tiền ra mua khu đất đó là Phạm Nhật Vượng, chủ tịch tập đoàn Vingroup, tập đoàn đã sở hữu Vinpearl Land ở Nha Trang, trung tâm mua sắm Vincom tại ngay trung tâm Saigon. Phạm Nhật Vượng xuất thân là một sinh viên du học ở Liên Xô cũ, khi Liên Xô sụp đổ đã chạy sang Ucraina để kinh doanh mì ăn liền (instant noodle) và đã thành công với việc làm ăn này. Sau khi đã có một số vốn khá lớn, Vượng đã về VN để kinh doanh địa ốc, lần lượt các khu Vinpearl Land, Vincom và Vincom A được ra đời. Hiện nay Phạm Nhật Vượng được xếp hạng là người giầu nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam với tổng tài sản lên tới 21.200 tỷ VND (tương đương 1 tỷ USD).

Khu trung tâm mua sắm mới Vincom A gồm có nhà hàng, khu mua sắm, khách sạn…. sau 4 tháng xây dựng đã được tưng bừng khánh thành vào ngày 10/10/2012 vừa qua, trong đó café Givral cũng được tái lập. Các trung tâm mua sắm này toàn nằm ở những khu đất vàng của Saigon, khu Vincom thì nằm ngay công viên Chi Lăng ngày xưa ngay đường Tự Do, mặt tiền ở Lê Thánh Tôn mà đã có một thời báo chí rùm beng rằng khu công viên Chi Lăng công cộng nay đã trở thành nơi “làm lợi” cho Vincom. Trung Tâm Vincom A thì nằm trong khu tứ giác bao gồm 4 đường chính của Saigon: Tự Do, Lê Lợi, Nguyễn Huệ và Lê Thánh Tôn (trong đó chỉ có đường Tự Do là bị đổi tên thành Đồng Khởi). Năng lực tài chính của Vượng quá mạnh mẽ nên trong thời kỳ xây dựng khu Vincom A, một khúc đường Lê Lợi đoạn từ Tự Do đến Nguyễn Huệ đã được cô lập hoàn toàn để phục vụ cho việc xây dựng.


Givral mới lộng lẫy và hào nhoáng


Tôi tìm đến trung tâm Saigon vào một buổi chiều, tòa nhà Vincom A đã nằm sừng sững trắng muốt sang trọng chẳng khác nào một khu sang trọng của Paris hay New York mà tôi đã đi qua. Tòa nhà không cao lắm, các tầng được xây giật vào để không che ánh sáng của những tầng phía dưới. Phải công nhận là kiến trúc thật tân kỳ và đẹp nhưng trong lòng tôi bồi hồi khi vào lại Givral ngày xưa, vẫn góc phố cũ, vẫn cái tên cũ, mà tôi nghe sao xa lạ với chính mình. Tôi ngồi một mình bên ly “café liegeois” cố hữu, từ lúc cảm thấy mình đã già đi, tôi đã chẳng ngại ngần gì khi bước vào quán café một mình, ai đó đã mang đi mất cái không gian ngày xưa của một thời kỷ niệm hay tôi là một người đã quá “bảo thủ”.

Saigon Oct 12th 2012

NHỮNG GÌ CÒN SÓT LẠI CỦA SAIGON

 
Một buổi tối đi dạy học về Mai Thy được người thuê nhà làm tiệm giầy báo cho biết là có một người đàn ông đã có tuổỉ đến nhà tìm cô, người đó không để tên lại nhưng sau khi xin số điện thoại di động của cô, ông cho biết sẽ liên lạc lại sau. Cô đoán đó chắc là một đối tác muốn mời mình cộng tác trong một hội nghị hay khóa huấn luyện nào đó.

Hai ngày sau, Mai Thy nhận được một cú điện thoại khi đang dạy học buổi tối, hóa ra đó là Uy, anh chàng được coi như mối tình đầu của cô mấy chục năm về trước. Ngày xưa hai đứa quen nhau trong một “bal de famille” của người bạn, cũng như bao thiếu nữ thời ấy, Mai Thy luôn ăn mặc rất thời trang, tiền bố mẹ cho để ăn sáng, để tiêu vặt cô chủ yếu bỏ vào quần áo, giầy dép. Thưở đó, ngoài giờ đi học ở một trường nữ nổi tiếng mà kỷ luật khá gắt gao, những giờ đi học thêm ở Hội Việt Mỹ (Vietnamese American Association) hay Trung Tâm Văn Hóa Pháp (Centre de Culturel Francais) cô như chim sổ lồng được tự do mặc những gì mình thích. Với đôi chân dài và chiều cao được coi là hơi quá khổ so với các thiếu nữ VN thời ấy, cô luôn diện những chiếc mini jupe xinh xắn, thêm mái tóc dài kiểu Francoise Hardy, một ca sĩ nổi tiếng của Pháp vào thập niên 60, Mai Thy đã là tâm điểm của khá nhiều các chàng, trong số đó có Uy.

- A lô?
- Hi em, Mai Thy phải không?
- Dạ, xin lỗi anh là ai ạ?
- Anh Uy đây, em còn nhớ không?
- Dạ xin lỗi anh Uy ở đâu ạ?
- Anh ngày xưa nhà ở Trần Quý Cáp đây.
- À em nhớ ra rồi, anh mới về hả?
- Anh về đã được hai tuần, anh tìm em khắp nơi, tưởng em đã đi ngoại quốc, không ngờ em vẫn còn ở VN, thế cũng may vì như thế dễ tìm em hơn
- Giọng nói của em không hề thay đổi
- Nhưng ngoại hình thì thay đổi nhiều lắm, sao anh tìm ra em?
- Anh tìm đến nhà Vân bạn em đường Trương Minh Ký cũ, nhưng cũng không dễ dàng gì vì tên đường bây giờ thay đổi quá nhiều. Tuy nhiên nhờ cái nhà thờ Ba Chuông gần nhà Vân vẫn giữ được tên cũ nên anh lần mò rồi cũng xong. Với hy vọng rất mong manh, anh may mắn đã gặp Vân và Vân cho anh địa chỉ nhà em. Anh xin lỗi đã đường đột đến mà không báo trước. Cậu bé bán giầy trước nhà em cho anh số cell của em. Bây giờ mừng quá, bao giờ anh em mình gặp nhau được?
- Dạ em chỉ bận nhiều buổi chiều tối vì dạy học, chứ ban ngày thì tương đối em có thì giờ hơn
- Mai là thứ bẩy rồi, nếu em rỗi, hai anh em mình đi ăn sáng uống café đi?
- Em xin lỗi anh, ngày mai em vẫn dạy học, thôi để chủ nhật anh ạ
- OK vậy thì chủ nhật mình gặp nhau ở đâu?
- Để cho anh dễ tìm, chắc mình gặp nhau ở quán café Window ngay khu vực hồ Con Rùa ngày xưa mà mình hay đi ăn bò bía và gỏi đu đủ khô bò đó. Em không nhớ địa chỉ nhưng anh cứ đến vòng quanh hồ Con Rùa tìm là ra ngay thôi
- Mấy giờ em nhỉ?
- 9g đi anh vì sáng chủ nhật không phải làm gì nên em hay ngủ cố
- Vậy anh hẹn gặp em chủ nhật lúc 9g sáng chứ không phải tối đâu đấy nhé – Uy cẩn thận nhắc lại tất cả chi tiết của cuộc hẹn cứ như thể anh lại sắp vuột mất những mối dây liên lạc với cô như ngày xưa.

 
Mai Thy đã gặp Uy năm 1969, khi cô đang theo học năm cuối bậc Trung Học và chuẩn bị thi Tú Tài hai, đến giờ cô vẫn không hiểu tại sao đó là năm hết sức bận rộn của lứa tuổi học trò mà cô vẫn có thời gian đi chơi đây đó cùng Uy. Thời của cô, những học trò mới lớn thường thích tham dự những buổi tiệc có kèm nhảy đầm của bạn mình, hầu như nhà nào hơi rộng rãi một chút là cứ thay phiên nhau tổ chức “bal de famille” để chiêu đãi bạn. Bố cô tuy có nghiêm khắc nhưng lâu lâu cũng cho tổ chức tiệc nhân dịp sinh nhật các anh em trong nhà, ông quan niệm thà là ở trước mắt để ông kiểm soát còn hơn là không thấy gì. Lúc đầu việc nhảy đầm còn được chính quyền lúc bấy giờ cho phép, càng về sau này khi cuộc chiến càng khốc liệt, không khí chiến tranh bao trùm quê hương cô thì chính quyền đã ra một sắc lệnh cấm tụ tập nhẩy đầm. Từ đó chỉ những người bạn có bố làm chức vụ cao cấp trong quân đội hay cảnh sát mới dám tổ chức nhảy. Tuy nhiên với tính ham chơi và sự liều lĩnh của tuổi học trò, cô và các bạn đôi lúc cũng đi dự các buổi nhảy đầm “chui”, đang nhẩy cảnh sát ập vào xét nhà thế là cả bọn, đứa leo lan can sang nhà bên cạnh, đứa vào phòng của chủ nhà thay pyjama vờ như đang ngủ, con trai thì leo lên mái nhà trốn, nghĩ lại tuy hồi hộp nhưng thật là vui. Chẳng qua chỉ sợ bố mẹ biết vì cảnh sát buộc phải có bố mẹ bảo lãnh mới cho về.

Trước ngày đi gặp Uy, Mai Thy kể cho anh bạn thân mình nghe buổi hẹn này, không phải để xin phép, nhưng chỉ để tỏ lòng tôn trọng người bạn thân đã đang cùng cô chia xẻ vui buồn trong cuộc sống. Cũng là một du học sinh thành đạt ở ngoại quốc, đối với anh chuyện chẳng có gì là ầm ĩ và anh hoàn toàn ủng hộ cuộc hội ngộ này tuy cũng thòng một câu đùa: “gặp để nhớ lại kỷ niệm ngày xưa một chút thôi chứ không phải để sống lại ngày xưa nhé”.

Buổi sáng Chủ Nhật, trời u ám như sắp mưa, Mai Thy chọn chiếc áo màu thiên thanh bằng tơ tầm do con gái mới gởi về tặng nhân ngày lễ MẸ vừa qua, cùng chiếc Jeans bạc phếch, cái phong thái “bụi bặm” từ thời con gái vẫn theo cô đến tận bây giờ. Do cá tính sôi nổi pha chút lãng tử, những thần tượng ca nhạc hay điện ảnh của cô không phải là một France Gall hiền dịu hay một Catherine Deneuve hoàn toàn nữ tính mà là những khuôn mặt gai góc và cá tính như Francoise Hardy hay Annie Girardot.

Soi gương trước cửa sổ đầy ánh sáng mặt trời, Mai Thy có thể thấy rõ những nếp nhăn trên hai khóe mắt của mình, tuy khá ít so với tuổi thật của cô, nhưng cũng đủ để cho người khác thấy cô không còn ở lứa tuổi trung niên nữa. Tô nhẹ son môi, thêm chút phần hồng vào hai gò má, trừ khi tham dự những buổi tiệc tối, cô vẫn có thói quen trang điểm rất ít và rất nhẹ mỗi khi ra ngoài.
 
 
Quen nhau đầu năm 69 thì đến cuối năm 70 khi đang học năm thứ hai đại học Khoa Học, Uy đột ngột báo tin cho cô biết là bố mẹ anh đã làm giấy tờ cho Uy đi Bỉ du học. Sau đó Uy chỉ về thăm lại VN một lần năm 72 và vẫn liên lạc thư từ thường xuyên với cô. Hồi đó chưa có internet nên thư từ nước ngoài đi và về rất chậm, cho dù viết liên tục cho nhau nhưng hầu như mỗi tháng Mai Thy chỉ nhận được hai bức thư từ Uy. Thế rồi sau biến cố của đất nước năm 1975, Mai Thy đã hoàn toàn mất liên lạc với Uy, lúc đầu cô cũng đau khổ tưởng không thể sống tiếp được nhưng thời gian luôn là liều thuốc nhiệm mầu, và tạo hóa khi lấy mất điều gì lại bù đắp điều khác cho ta. Thấm thoát thế là đã 40 năm hai người không gặp nhau, cuộc sống trôi nổi, biết bao thay đổi cả về ngoại hình lẫn tư tưởng. Một chút hồi hộp trong lòng, một chút lo lắng bâng quơ, liệu Uy có nhìn ra mình sau mấy chục năm không gặp lại? mà cũng chẳng sao, mình già thì đối tượng bây giờ cũng già hơn mình, cô nghĩ để tìm lại chút tự tin.

Mai Thy dắt xe ra khỏi nhà, buổi sáng không khí thật dễ chịu, SG lúc nào đường phố cũng đông người nhưng khác biệt là hôm nay không phải ngày đi làm nên mọi người nhìn rất thư thái thong thả. Có những gia đình cả 5 người trên một chiếc xe gắn máy, bố mẹ và 3 đứa con mà chẳng bao giờ bị cảnh sát tuýt còi có lẽ vì cảnh sát cũng thông cảm với những gia đình đông con nhưng chỉ có một phương tiện đi lại duy nhất là chiếc xe gắn máy.

Mai Thy vừa đến quán café thì trời đổ mưa lớn, một anh bảo vệ giúp cô mang xe lên lề vì từ lúc con đường này được làm lại, lề đường đã được nâng cao lên mà không chừa lại chút dốc nào cho xe lên. Cái bánh xe Vespa của cô thì nhỏ xíu, lên dốc cao rất dễ trượt ngã nên thường cô chỉ mở máy và dựa vào sức mạnh của động cơ để dắt xe lên lề.

Vuốt lại mái tóc ngắn, chùi vài giọt mưa còn đọng trên mặt, cô bước vào quán café mà bối rối không biết mình phải bắt đầu từ góc nào để tìm Uy. Uy đã dặn cô:

- Em không cần phải nói em mặc áo mầu gì thì anh cũng nhận ra em thôi
- Mai Thy! Mai Thy!

Kia rồi, một cánh tay đã vẫy cô ở một bàn nhỏ kín đáo trong góc chỉ giành cho hai người, là Uy đó sao? Từ ngày xa nhau, có đôi lúc khi nghe một bản nhạc quen hay khi đi ngang một con phố hay công viên mà ngày xưa hai đứa thường đi qua, cô vẫn nhớ tới Uy, những lúc ấy cô vẫn tưởng tượng ra một thanh niên to cao khỏe mạnh với mái tóc quăn tự nhiên và nụ cười tươi lạc quan yêu đời. Bây giờ ngồi đây, trước mặt cô là một ông già đẹp lão, tuy nhìn không còn cao to như xưa khi Uy đứng dậy kéo ghế cho cô, nhưng vẫn giữ được vẻ cường tráng của một người đã bước qua tuổi 60, bụng không phệ và tóc chỉ hơi muối tiêu, đặc biệt nước da thật hồng hào khỏe mạnh.
- Em không thay đổi gì nhiều, chỉ không còn mái tóc dài Francoise Hardy mà anh yêu thích – Uy kéo ghế cho cô ngồi
- Cám ơn anh
- Sao em dùng gì? - vẫn giọng Bắc ấm áp Uy hỏi
- Cho em một bánh mì trứng omelette… - Uy tiếp lời: và một café liegeois
- Anh hay thật vẫn nhớ em thích café liegeois à?
- Làm sao anh quên được? – Uy bắt đầu trầm ngâm. Ngày xưa những cuộc hẹn hò cuối tuần của hai người thường kết thúc tại quán café Brodard và loại nước uống muôn thưở của Mai Thy luôn là café liegeois
- Em thấy anh thay đổi nhiều không?
- Dĩ nhiên, bốn mươi năm rồi còn gì, thay đổi nhiều lắm, già đi, tóc bạc và thấp đi
- Ừ người già bao giờ cũng nhìn thấp đi vì các đốt xương sống sẽ sụm xuống một chút khiến cho người ta nhìn thấp đi
- Thế hả? thế mà bây giờ em mới biết, chỉ có một thứ không thay đổi là tóc anh vẫn quăn tự nhiên
- Tóc quăn tự nhiên thì cứ quăn hoài chứ làm sao thay đổi được hả em? Anh cười
- Thế anh thấy em sao?
- Em dĩ nhiên cũng thay đổi nhiều nhưng anh đoán là em rất chăm tập thể dục, em có nước da rám nắng mà người ngoại quốc họ rất mê
- Thế mà ở đây họ chê em đen đấy, ngày nào em cũng không tập cái này thì làm cái kia, em quen rồi
- Nhưng anh thấy em nhìn đầy đặn so với hồi xưa, không mập tí nào. Ngày xưa em gầy quá, nên thấy cao lêu khêu. Khi trẻ thì gầy như thế là đẹp nhưng già rồi phải mập lên một tí trông được hơn.
 
 
Thế rồi anh kể cho cô nghe về cuộc đời của anh, học xong về quan hệ ngoại giao ở Bỉ, anh làm cho một tổ chức phi chính phủ (NGO) được vài năm và sau đó thời thế đưa đẩy anh xin được một chân làm “interpreter” cho Liên Hiệp Quốc tại trụ sở ở Thụy Sĩ và làm cho tổ chức đó cho tới ngày về hưu năm ngoái. Sau 1975, anh tưởng sẽ không bao giờ gặp lại cô, rồi cuộc sống đưa đẩy, anh lập gia đình với một phụ nữ nước ngoài và giờ đã ly dị sau hai mươi năm chung sống. Một thời gian sau, anh đã có ý định về Saigon chơi nhưng nghe mọi người than vãn nên ngao ngán không muốn về. Lòng thì luôn đau đáu nỗi nhớ nhà và sau cùng anh quyết định về VN một chuyến thăm dò xem có thể sống nốt quãng đời còn lại ở quê hương không? Thỉnh thoảng, trong câu chuyện, anh vẫn nhắc tới Irene vợ cũ của anh với đầy vẻ yêu mến, vẫn luôn thăm hỏi và giúp đỡ cô ta khi được yêu cầu. Anh bảo đã có một đứa con gái nay đã ra trường Đại Học và cũng theo nghiệp bố làm về ngoại giao.
- Con anh có biết nói tiếng Việt không?
- Chút chút, anh cũng tập cho cháu nói nhưng nhiều cái nó nói buồn cười lắm. Thí dụ: cái hoa nó “rớt” thì nó nói là cái hoa “té” (fall down) còn “tóc” anh bắt đầu trắng thì nó nói “lông” (hair) bố bắt đầu trắng rồi. Thôi kệ biết ít còn hơn không.
- Buồn cười quá nhỉ?
- Anh về đây mà tiếc quá, bao nhiêu thứ không còn nữa
- Anh muốn nói đến cái gì?
- Thì như café Brodard chẳng hạn, nơi ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm của tuổi trẻ chúng mình giờ cũng chẳng còn
- Dạ, một tập đoàn giầu có đã mua hết khu đất chỗ Passage Eden và đang đập ra để xây “shopping mall” rồi anh ơi
- Thế thạch chè Hiển Khánh còn không em?, anh nhớ ngày xưa em cũng hay bắt anh chở đi ăn thạch trắng nấu với nước đường hoa nhài
- Chỗ đó cũng mất rồi anh ạ, rạp Casino Dakao lẫn Casino Saigon đều không còn là rạp cine nữa. Casino Dakao thì vẫn còn đấy nhưng từ lâu nó đã được sử dụng làm nhà kho chứa đồ, còn Casino Saigon thì cũng vừa được phá đi để xây nhà hàng.
- Anh nhớ ngày xưa khi đi cine, em chỉ thích đi Rex, Eden hay Casino Saigon thôi chứ không chịu đi rạp Lê Lợi dù ở đấy cũng có nhiều phim cũ khá hay
- Ở trong đó nhiều người đồng tính quá nên em thấy kỳ kỳ không thích
- Em ạ, anh nghĩ là anh sẽ về Thụy Sĩ thu xếp và sẽ về VN sống luôn cho đến chết.
- Thật không anh? Sao em thấy người VN đã sống ở ngoại quốc nhiều không thích về đây sống luôn đâu.
- Lúc trước anh cũng nghĩ thế nhưng sau khi về đây anh nghĩ mình sẽ sống thử một thời gian rồi nếu được sẽ dọn về ở luôn. Ở bên kia sau khi ly dị, con cái đã có gia đình ra ở riêng, một mình cô đơn lắm.
- Tùy anh, nhưng anh phải suy nghĩ và cân nhắc cho kỹ nếu không bán nhà bên ấy đi rồi thì khó mua lại. Em thì đã có giấy tờ định cư ở Mỹ, định vài năm nữa sẽ sang đó ở luôn với con gái
- Sao em lại lội ngược giòng thế, người ta già tìm về VN sống cho thanh thản có người hầu hạ lúc tuổi già còn em thì lại định đi
- Nhưng em chỉ có một đứa con gái duy nhất
- Rồi em xem cháu có chịu ở với em hay là lại bỏ bà già bơ vơ một mình lúc đó lại ngồi khóc. À mà hồi này em còn khóc nhè không? Anh nhớ ngày xưa em rất “mít ướt”, đụng gì cũng khóc. Chở em đi lấy quần áo, người ta hẹn đúng ngày mà không xong em cũng khóc. Nói nặng một tí cũng khóc.
- Bây giờ già rồi, hết khóc nhè mà khóc thầm thôi – Mai Thy đùa
- Thôi cứ khóc được là nguôi ngoai rồi, đàn ông không khóc được, cái gì cũng giữ trong lòng nên khổ hơn đàn bà.
- Bây giờ thì em cho anh biết về gia cảnh em, anh nghe Vân nói em cũng đã ly dị
- Dạ, chồng em lúc trước đang là sinh viên, bị tổng động viên vào mùa hè đỏ lửa, gia đình có tiền nên chạy vào tình báo an ninh quân đội để khỏi phải ra trận. Đến 75 phải đi học tập 8 năm, khi về đã hoàn toàn là một người khác, hay ghen vớ vẩn và đôi lúc đánh đập em nên em đành phải chia tay sau khi có một cháu gái – Nói đến đấy, hai giọt nước mắt chẩy dài từ khóe mắt Mai Thy khi nhắc đến những biến cố đã qua.
- Anh xin lỗi đã khơi lại chuyện buồn của em – Uy lấy tay vỗ nhẹ lên đôi vai đang run nhẹ của cô, anh đưa cho cô một mảnh “tissue” để lau mắt.
- Từ đấy, em thề sẽ không lập gia đình nữa để không ai có quyền đánh em
- Thôi mình nói chuyện khác đi, bây giờ anh muốn đi chơi một vòng Saigon em có tình nguyện làm tài xế chở anh đi không hay mình đi taxi?
- Em chở thì được thôi, em đi xe gắn máy 45 năm rồi còn gì. Chỉ sợ anh không dám ngồi sau lưng em thôi.
- Em cứ đi từ từ thì OK.
Kêu người tính tiền nước, hai người bắt đầu lên xe Vespa của Mai Thy, cũng may là “coffre” xe rộng nên cô luôn mang theo một “helmet” phòng hờ.
- Anh đội “helmet” vào, bây giờ là luật đấy nếu không họ phạt nặng còn hơn giá tiền một chiếc “helmet”
- VN về mặt này hay quá nhỉ, đã ý thức tốt về gánh nặng của xã hội trong lãnh vực tai nạn giao thông
- Rồi, anh OK chưa?
- Ngày xưa anh đi xe gắn máy vi vút, lâu rồi không đi cũng hơi sợ vả lại bây giờ xe đông hơn ngày xưa nhiều. Anh nhớ cái xe Lambretta mắc chứng của anh, lâu lâu lại không chịu nổ máy làm anh cứ phải cong đít đẩy cho nó nổ lạch bạch trong tiếng cười dòn của em, ác thật một người thì mệt muốn chết, còn một người thì đứng diễu cợt
- Nếu em quay lại cảnh ấy cho anh xem thì anh cũng buồn cười chứ đừng nói ai
Uy đặt nhẹ tay lên vòng eo của Mai Thy, cô vội nói:
- Ấy, anh víu vào cái “porte baggage” đàng sau xe, đừng víu vào người em, người đi đường người ta nhìn xấu hổ lắm
- Ở VN cái gì cũng sợ xấu hổ, thôi được để anh thử xem
Chiếc xe lúc đầu hơi chòng chành vì Mai Thy chẳng khi nào chở ai đằng sau nặng như thế, lại thêm Uy chưa quen nên thay vì mỗi khi dừng lại theo thói quen Mai Thy hay nghiêng bên trái để chống chân thì anh cứ nghiêng theo chiều ngược lại. Phải một lúc cô mới quen được cái thế ngồi của anh. Cô bắt đầu chở anh, từ hồ Con Rùa ra nhà thờ Đức Bà, ngang qua Bưu Điện, đến con đường Tự Do, anh đòi quẹo trái sang Nguyễn Du để xem lại thư viện ALLIANCE FRANCAISE mà ngày xưa hai đứa cũng thường hẹn nhau ra đó học bài

Uy còn nhớ rất nhiều thứ, anh muốn ghé chỗ ông thợ ngồi khắc chữ ngay đường Lê Lợi, ngày xưa, mỗi khi có cây bút máy mới học trò chúng tôi thường hay ra ông để khắc tên mình lên đấy. Rồi anh đòi ghé xem ông thợ sửa giầy bên lề đường Lê Thánh Tôn, nơi ngày xưa mỗi khi giầy của anh hay của ông bố hỏng anh vẫn mang ra đây nhờ ông sửa. Cuối cùng thì cũng đến buổi trưa, nắng đã gắt và Mai Thy cũng thấm mệt dù Uy vẫn muốn đi tiếp, cô đề nghị được về nhà nghỉ ngơi trước khi tiếp tục hành trình khi trời mát hơn.
- Thôi em bỏ anh xuống đường Tự Do, anh lang thang một mình rồi hẹn nhau ở Gloria Jeans (Givral cũ) lúc 4g vậy. Sau đó anh sẽ tìm quán cơm bà Cả Đọi ở Nguyễn Huệ để ăn cơm với cà pháo mắm tôm, canh rau đay một bữa. Hay em muốn ăn trưa cùng anh?
- Em cám ơn anh, nhưng em vừa ăn sáng xong còn no lắm, bây giờ đến giờ “gà lên chuồng”, em phải về ngủ một chút rồi mới tính tiếp được.
- OK gặp em lúc 4 giờ tại Gloria Jeans

Trở về nhà, tưởng sẽ ngủ được một giấc cho đỡ mệt trước khi tiếp tục gặp Uy buổi chiều nhưng trái với mong đợi, Mai Thy trằn trọc mãi không chợp mắt được. Những hình ảnh ngày xưa như một khúc phim lại hiện về trong đầu cô. Uy hơn cô hai tuổi, thườ ấy khi hai đứa còn đang trong tuổi mới lớn, những buổi hẹn hò đi uống café Brodard hay Givral, những buổi chiều ra café Viễn Đông vừa ăn phá lấu, vừa uống nước mía ngoài đường mà cứ thấp thỏm sợ người quen nhìn thấy. Ngày ấy, Mai Thy nhớ các miếng phá lấu đều đồng giá với nhau, ông Ba Tầu bán món đó cứ việc cho bà con ăn thả giàn cuối cùng đếm những que tre mà người ta bỏ ra để tính tiền. Nhìn thế chứ, ông quan sát khách hàng kỹ lắm, cho dù các thanh niên có tinh quái cách mấy cũng không tài nào qua mặt mà dấu bớt que tre với ông được. Ngày nay, quán nước mía đó đã không còn nhưng vẫn còn một người bán phá lấu ở đấy nhưng không ngon như ngày xưa nữa.

Lại có những chiều cuối tuần, Mai Thy được Uy chở đi chơi trên chiếc xe Lambretta cồng kềnh của anh, ngang qua vườn Tao Đàn (Bờ Rô cũ), cô đã tinh nghịch cố bắt những chiếc lá me nhỏ xíu đang rơi lả tả trong gió. Khi vào một quán nước, Uy đã nhẹ nhàng gỡ những chiếc lá me vừa xanh vừa vàng ra khỏi mái tóc đen dài của cô và khẽ hát bài gì đó “con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về..”.

Những ngày cùng anh đi coi cine tại Rex, cuốn phim mà cô thích nhất hồi đó là Le Passager de la Pluie do Charles Bronson đóng, cô và anh đã hay tranh cãi về Charles, cô thì cho rằng anh ta rất “manly” còn anh thì bảo “trông anh ta tàn bạo thế nào ấy, anh không thích….” Thế mà cũng vì chuyện ấy mà giận dỗi cả buổi, đúng là con nít!

Rồi cũng đến buổi chiều hẹn hò, Mai Thy ướm lên người chiếc áo đầm kaki mầu olive của Michael Kors mà cô đã sắm trong kỳ đi Mỹ thăm con gái vừa qua. Những mẫu quần áo “safari” luôn là lựa chọn của cô, chợt cô hơi chạnh lòng khi nghĩ rằng: mình có còn trẻ đâu mà điệu thế, thôi kệ dù sao cô cũng phải trông tươi tỉnh gọn gàng trong mắt người xưa.

Mai Thy đến Gloria Jeans café trễ 10 phút vì cứ mặc vào lại thay ra, rốt cuộc lại chọn cái áo đầu tiên, cho nên người ta hay nói cái lựa chọn đầu tiên của ta thường là cái lựa chọn đúng nhất. Uy đã ngồi đó với cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư anh vửa mua ở nhà sách Fahasa, một nhà sách lớn nhất Saigon hiện nay. Anh nói anh đã đi đến nhà sách Khai Trí cũ (nay đã đổi tên là Lê Lợi), vẫn ở vị trí đó nhưng không có nhiều sách lắm. Còn nhà sách Xuân Thu thì nay cũng đã thành đống gạch nát vì nằm chung trong cụm Passage Eden, chỉ vài năm nữa thôi ở đó sẽ mọc lên những tòa nhà cao tầng phục vụ cho những thành phần giầu có.

- Anh đến lâu chưa?
- Không mới có 10 phút, không sao anh đợi được mà, đợi cả đời anh còn đợi được – Uy lúc nào cũng dẻo mồm như thế
- Em mệt quá nên ngủ quên một chút – cô nói dối chứ chẳng lẽ nói em cứ thử hết áo này đến áo kia để đi với anh thì có vẻ như anh quan trọng quá, tự ái không cho phép cô nói thật.
- Mấy chục năm rồi anh còn nhớ tiếng Việt không mà mua Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đọc?
- Vì quên nên mới phải đọc để học lại tiếng Việt chứ
- Em có một ý kiến này hay lắm. Hồi này em có tham gia một diễn đàn của các nữ sinh Trưng Vương xưa, em sẽ cho anh địa chỉ web để anh vào đọc, vừa giải trí vừa ôn tiếng Việt.
- Chà hồi này em thơ văn giữ quá nhỉ, ngày xưa anh đâu có nghe thấy em làm thơ văn gì đâu?
- Tại ngày xưa còn ngây thơ, chưa bị cuộc đời vật vã nên chưa viết được anh ạ
- OK em cứ cho anh địa chỉ anh vào xem
- Mà không phải xem không nhé, còn phải comment nữa
- Sure rồi
- Tụi em còn có counter để đếm số view nữa, mỗi khi có người vào coi thì số view lại tăng thêm, anh dừng cười em chứ số view bài em cũng khá lắm đó.
- Thế thì anh lại có cách làm cho em vui rồi, cứ mỗi ngày anh cứ ra vào bài của em vài chục lần cho số view tăng lên cho em vui – Tuy Uy nói đùa nhưng cũng làm cho cô vui.
- Bây giờ uống nước xong, anh lại muốn đi vào Chợ Lớn chơi xem có thay đổi gì không? Nhưng trước khi đi anh muốn mời em đi ăn ở Thiên Nam trước vì em cũng chưa ăn trưa.
- Anh chỉ toàn muốn đến chỗ cũ để tìm lại những kỷ niệm xưa không à. Em nhớ ngày xưa lâu lâu mình cũng đi Thiên Nam ăn và anh phải ép mãi em mới chịu uống chút rượu trái cây Sangria. Sao anh biết Thiên Nam vẫn còn?
- Thì hôm anh mới về, anh có hỏi đám bạn thì họ nói Thiên Nam vẫn còn nên anh đã đến đó thử, vẫn ngon em ạ.
- Vậy mình đi ăn Thiên Nam xong em chở anh vào Cholon xem thành phố người Hoa về đêm vậy.
Vào đến Thiên Nam anh đã chọn cái bàn cũng trong cái góc mà ngày xưa hai đứa thường ngồi, chẳng là ngày xưa mỗi khi đi chơi với anh, cô vẫn sợ bố mẹ biết đánh đòn nên vào đâu cũng phải chọn góc khuất. Một lần đi ăn phở gà Pasteur với anh, chợt thấy ông bố đi bộ ngang qua, cô vội chui ngay xuống gầm bàn núp, chén đũa đổ lõng chõng làm anh sau đó bực mình phải nói:
- Em làm gì đi với anh mà cứ như là đi ngoại tình, làm cả tiệm người ta nhìn kỳ quá!

Nghĩ lại hồi nhỏ sao mình sợ bố mẹ thế, chẳng bù bây giờ thời buổi tân tiến, con gái cứ xin bố mẹ là được mang bạn trai về nhà, được phép đi chơi với bạn trai.

Mai Thy gọi món bồ câu quay, còn anh thì ăn cật sốt tiêu. Ngày xưa cô rất thích món bồ câu quay của Thiên Nam, không biết tại mình già rồi, sợ đồ béo hay những món ăn ngày xưa bây giờ họ làm béo hơn mà sao cô thấy đồ ăn hôm nay béo ngậy quá.
- Mai Thy ơi, anh rất vui khi gặp lại em ở Việt Nam và trở lại những nơi ngày xưa mình đã đến. Anh cứ tưởng người lanh lợi như em là đã thoát ra nước ngoài được rồi.
- Anh ơi, khi mình trẻ hơn muốn đi để xây dựng lại cuộc đời, thì không đi được. Đến khi già rồi, yên ổn ở Việt Nam thì lại có giấy tờ đi mà bây giờ thì trễ quá rồi, đi làm gì nữa vì còn sống được bao năm. Chuyện đi và ở luôn làm em nhức đầu và phân vân. Anh thật may mắn đi du học không phải nếm mùi cộng sản, không phải trải qua những thời kỳ khó khăn.
- Nhưng tất cả không phải là mầu hồng em ạ, ở đâu cuộc sống cũng có những áp lực riêng của nó.
- Thôi hai anh em mình đi đi.
Con đường Trần Hưng Đạo dẫn từ Saigon vào Cholon anh bảo sao hôm nay thấy nhỏ hẹp lại so với ngày xưa, có lẽ tại mật độ xe cộ đông quá. Trên đường đi Uy vẫn tiếp tục nói chuyện, Mai Thy phải gần như hét lên để trả lời anh. Khi qua khỏi Trần Hưng Đạo A, đến phần vào Cholon là Trần Hưng Đạo B, anh lại đòi ghé vào lề đường. Hóa ra anh muốn mua vài gói đậu phộng húng lìu, anh bảo đậu phộng húng lìu phải ở Cholon do người Hoa làm mới ngon và đúng mùi vị. Anh mua 10 bịch, không lấy tiền thối lại, ông Ba Tầu cứ cám ơn rối rít. Cholon buổi tối thật là nhộn nhịp, phải công nhận người Hoa họ đến đâu là luôn tụ tập lại thành một cộng đồng lớn sống quây quần và tương trợ lẫn nhau.

Vào đến khu vực chợ Soái Kinh Lâm bán vải sỉ, cô gởi xe cùng anh đi bộ loanh quanh. Anh hỏi:
- Sao hồi này ở VN người ta đi xe hay bóp kèn quá hả em?
- Dạ đã thành thói quen, ai cũng bóp kèn để báo tin sự hiện hữu của mình, nếu không có người đang đi lại nhào qua nhào lại không tránh kịp
- Ở ngoại quốc người ta ít bóp kèn lắm, chỉ trong trường hợp thật khẩn cấp
- Em biết, nhưng ở đây không bóp kèn cũng không đi được anh ạ. Người ta cứ quẹo trái quẹo phải lung tung mà không “signal” trước
- Em đã đi Thụy Sĩ rồi, đời sống bên đó cao nhưng buồn quá, em chẳng chịu nổi
- Em ơi, ở đâu mà có hai người hợp ý nhau cũng vui hết, trong rừng cũng vui, anh nói thật đấy
Chúng tôi đi bộ ngang qua những hàng quán của người Hoa trong khu vực Cholon, họ la hét ồn ào, nhưng đó là đặc trưng của khu Cholon. Khi đã mệt và khát nước, tôi đề nghị anh vào quán chè lâu năm ở góc đối diện chợ Soái Kình Lâm. Quán chè này có đủ loại chè, từ sâm bổ lượng, chè trứng, đến đậu xanh, đậu đen, mè đen….Mỗi khi có bạn bè nước ngoài về chơi, chúng tôi đã tốn bao nhiêu tiền taxi chỉ để vào đây ăn mỗi đứa hai ly chè. Quán chè này nằm trong một cột điện ngày xưa, theo chị bán chè thì nhà chị đã truyền nhau 4 đời để bán chè ở đây.
- Anh ăn gì?
- Cho anh một chén chí mà phù (chè nấu bằng mè đen)
- Ừ em cũng thế, ngày xưa mẹ em cứ kêu ông tầu gánh chè vào và mua chí mà phù bắt tụi em ăn nhưng đứa nào cũng sợ vì nó đen thui giống như nước cống vậy. Mãi sau này em tập ăn được thì mê mẩn luôn. Cũng như hồi bố em làm Bộ Canh Nông, người ta cho bao nhiêu sầu riêng mà đâu có biết ăn cứ đem cho. Đến bây giờ mới biết ăn thì chẳng có mà ăn.
Rồi cũng đến giờ cô giục anh về vì còn phải bỏ anh vào khách sạn rồi mới chạy về nhà. Anh đề nghị để anh đi taxi về cho cô đỡ cực nhưng đã chở đi phải chở về chứ ai mà “mang con bỏ chợ” như thế.

Về đến khách sạn anh thì đồng hồ vừa điểm 10g, Mai Thy vội cáo từ ra về vì sợ đường vắng.

- Cám ơn em đã bỏ thì giờ đi với anh suốt ngày hôm nay, nếu có thì giờ cứ gọi anh mình lại đi uống café, anh vẫn còn nhiều chuyện chưa nói hết với em.
- OK em về đây, mai còn phải dạy sớm đi bơi. Chúc anh ngủ ngon
- Bye em.

Mai Thy nhấn tay ga vọt đi mà vẫn thấy bóng Uy đứng vẫy tay nhìn theo, người ấy ngày xưa là một phần cuộc sống của cô khi tuổi mới lớn. Cuộc tình trong trắng thánh thiện cho đến khi chia tay nhau vì anh đi du học, bây giờ sau mấy chục năm gặp lại những xôn xao nồng nhiệt của tuổi mới lớn đã không còn, thay vào đó là một tình cảm thật nhẹ nhàng dễ thương. Mai Thy xót xa cho Uy đã không có hạnh phúc gia đình, nhưng cũng như cô, ông trời chắc chắn sẽ bù dắp cho anh một cái gì đó để anh có thể vui sống suốt cuộc đời còn lại, cô thầm mong. Những giòng sông chia xa rồi cũng đến lúc nhập lại, cuộc hội ngộ bất ngờ sau mấy chục năm xa cách đã cho cô sống lại chút kỷ niệm êm đềm của thời xưa cũ. Cám ơn người xưa, cám ơn những gì còn sót lại của Saigon.


Saigon July 10th 2012
 

 



SAIGON MƯA NẮNG


Saigon bây giờ trời mưa hay nắng
Tà áo em bay theo giọt nắng vàng
Con đường ta đi dòng sông kỷ niệm
Nỗi nhớ trong em nỗi nhớ dịu dàng
(Bài hát SG niềm thương nỗi nhớ – Võ Tá Hân)


Thế là lại đến mùa mưa của Saigon, kết hợp với những cơn mưa đầu mùa là một trận bão rớt vừa nhẹ nhàng quét qua SG làm mưa to gió mạnh trong một vài ngày. SG sau đó lại trở về với những cơn mưa luôn xuất hiện vào buổi chiều, thường thì SG rất ít khi mưa buổi sáng. Những cơn mưa ở SG thường dồn dập và qua đi nhanh chóng như người con gái khi mới biết yêu thường nồng nhiệt nhưng hay tự ái và đột ngột dứt tình. Nếu gặp mưa ở SG bạn có thể đứng chờ cho hết mưa và đi tiếp, nhưng ở miền Trung như Đà Nẵng nơi tôi đã từng ở, đừng bao giờ chờ hết mưa mới đi bởi vì mưa ở đó có thể kéo dài suốt ngày thậm chí là vài ba ngày.

Ngày xưa, với tính lãng mạn của tuổi mới lớn, khi trời mưa đến tôi vẫn thường mặc áo mưa lang thang một mình trên con đường Lê Ngô Cát vắng vẻ gần nhà. Tôi cứ đi trong mưa như thế và hồi tưởng về những kỷ niệm vui buồn đã xảy ra trong cuộc đời mình. Khi kể cho các bạn nghe, chúng đã cho rằng tôi điên, nhưng có đi trong mưa gió một mình như thế, bạn mới cảm nhận được một khoảnh khắc thật tuyệt vời kết hợp giữa sự bay bổng của tâm hồn với những tự nhiên của tạo hóa.

Ngày nay, mưa SG không còn đầy mộng mị như ngày xưa, mỗi khi trời mưa lớn, chúng tôi phải nghĩ ngay đến những con đường ngập nước để tránh xa vì đi vào đó có nghĩa là xe sẽ phải dắt bộ vì nước vào ống bô làm xe tắt máy. Nếu không cũng có thể có rủi ro bị điện giật do những dây điện của người dân câu móc lung tung có thể truyền vào vũng nước và lấy đi mạng sống của bạn không chút thương tiếc. Nước mưa đôi lúc kết hợp với nước triều cường (tide - mực nước sông dâng cao tràn vào cống rãnh vượt lên đường phố), tình trạng đó thật khổ sở vì mực nước trên phố lúc này có thể lên đến bụng của bạn và chẳng có xe nào mà không bị tắt máy. Hình ảnh từng đoàn người lầm lũi dắt xe đi trong mực nước đen đục hôi hám dâng cao để tìm chỗ cạo “bugi” hay sửa xe đã trở thành phổ biến trên nhiều tuyến đường tại SG vào lúc trời mưa.

Ở SG bây giờ người ta không dùng áo mưa cá nhân như ngày xưa mà phổ biến là dùng “poncho” thay cho áo mưa, vừa tiện lợi để che cả đồ dùng lẫn thân người và thậm chí cả người ngồi phía sau. Gần đây nhất người ta còn phát minh ra “poncho” có hai đầu, cho người ngồi trước và cả người ngồi sau cho dễ thở.

SG bây giờ lúc nào cũng kẹt xe chứ chẳng riêng gì giờ cao điểm (rush hour). Sau khi tạnh mưa, tình trạng còn tệ hại hơn nhiều, vì mọi người đều đổ ra đường để về nhà, xe cộ trên đường cứ nhích từng chút một nên thà là đội mưa mà đi vẫn hơn.

Mưa vào buổi chiều tối làm ảnh hưởng rất nhiều đến những người dân lao động bán hàng ăn bên đường. Chuẩn bị đồ ăn xong, nếu trời mưa vào đúng buổi chiều tối, mọi người sẽ ngại ngùng ra đường vì lạnh và ướt, thế là những gánh hàng của các bà mẹ nuôi sống cả một gia đình đành phải chịu lỗ và mang về cho cả nhà cùng ăn trừ cơm.

Chính phủ đã tìm cách chống ngập khắp nơi nhưng tình hình không khá lên là mấy, để chống ngập cho đường, đôi lúc ở vài nơi chính phủ đã nâng mặt đường nhựa lên quá nền nhà người dân đến cả hơn 1 m, hậu quả nền nhà dân không thể nâng lên vì nếu nâng lên sẽ đụng trần và họ đành chấp nhận nhà mình tụt xuống cả mét so với mặt đường, không thể khiếu nại mà khiếu nại cũng chẳng ai bồi thường.

Con đường Nguyễn Hữu Cảnh ngày nay, nơi người ta đã cắt mất chuồng voi của Thảo Cầm Viên để nối về Lê Thánh Tôn, trung tâm Saigon, là một con đường nổi tiếng ngập nặng dù đó là một công trình mới hoàn toàn chỉ vài năm nay. Bị báo chí chỉ trích, con đường đã được sữa chữa nhưng cũng chẳng khá hơn bao nhiêu dù trên đó có tọa lạc một tòa nhà hết sức là “modern” gọi là The Manor, giá một mét vuông có thể lên tới 3,000 đô la vào lúc cao điểm.

Mùa mưa ở SG cũng khổ mà mùa nắng càng khổ hơn, chưa bao giờ nắng gay gắt bằng lúc này, chắc cũng do thời tiết toàn cầu thay đổi. Đôi khi hết mùa mưa cả tháng mà ông trời vẫn tiếp tục khóc lóc, hay đang giữa mùa mưa cũng có nắng chói chang như mùa nắng vậy.

Đường phố ngày càng bụi bặm và đông đúc do số lượng người nhập cư tăng lên từng ngày, Theo thống kê, dân số chính thức của SG hiện nay cộng với những người nhập cư lên tới gần 9 triệu người. Nắng nóng kết hợp bụi bẩn từ hàng triệu chiếc xe gắn máy, hàng trăm chiếc xe bus nhả khói đen nghịt từ dầu diesel khiến cho hầu như mọi người, kể cả phái nam phải đeo “mask” để vừa chống nắng vừa chống bụi. Tôi nhớ ngày xưa chúng tôi đi học hay đi ngoài đường chỉ đội nón thôi chứ không bao giờ phải đeo “mask”. Bây giờ các em gái chống nắng từ đầu đến chân, bên trong “helmet” là một nón rộng vành để che nắng hắt, miệng che “mask”, tay mang găng đến tận nách, lúc nào cũng mặc một áo khoác ngoài thường là bằng nỉ dù trời nắng gay gắt, chân cũng mang vớ che kín. Với những thiếu nữ thích mặc đầm dơ hai chân ra nắng, thì nay đã có váy chống nắng để bảo vệ cặp đùi của các nàng. Váy này giống như một chiếc “sarong” của người Miên, dài đến tận mắt cá chân, vừa giúp các nàng không bị đen chân, vừa giúp không bị hớ hênh khi mặc đầm ngắn quá.

Còn đâu những chiếc nón lá dễ thương của các nữ sinh ngày xưa. Trong khi những người nước ngoài đến VN chơi, hí hửng mua về cả chục chiếc nón lá tặng người thân và bạn bè thì bây giờ hầu như nón lá chỉ được đội bởi những một số ít người, đa số là những người buôn thúng bán bưng ở chợ. Một phần cũng vì “helmet” đã trở thành bắt buộc cho mọi người khi đi gắn máy nên đã nghiễm nhiên thay cho chiếc nón lá, nhưng dù đi bộ thì nữ sinh ngày nay cũng chỉ đội những chiếc nón kiểu rộng vành để che nắng.

Đồng phục của các trường bây giờ, trừ một số ít vẫn duy trì chiếc áo dài trắng, còn đa số đồng phục là quần tây áo sơ mi trắng vì bây giờ nam và nữ sinh học chung với nhau chứ không phân biệt trường nam và trường nữ như xưa nữa cho nên cái cảm giác:

“Nấng Saigon anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông” (thơ Nguyên Sa)
và cả cái hình ảnh mái tóc đen dài buông lơi trong gió hầu như cũng hiếm khi còn tìm thấy.

Người Saigon sang Cali sống, mùa nắng bên ấy cũng gay gắt không kém gì nắng SG. Thế là một số chị em vì sợ đen tay, tuy lái xe hơi, cũng vẫn đeo găng đến tận khuỷu khiến một số người ngạc nhiên khi nhìn thấy cảnh này.

Dân VN thì sợ nắng, còn dân ngoại quốc cứ cố phơi nắng cho làn da thật nâu, họ nói với người VN rằng, ở nước ngoài người nào có làn da rám nắng mới là người có tiền đi holiday, còn cứ trắng nhếch là không có tiền vì chỉ ở nhà. Thôi thì mỗi nền văn hóa có những suy nghĩ khác biệt nhau. Bây giờ nhắc tới Saigon, chỉ còn lại những hối tiếc và hoài niệm về một nơi có hai mùa mưa nắng mà chắc hẳn ai trong chúng ta khi rời xa cũng đã bỏ lại một phần trái tim mình.

Saigon July 3rd 2012




Monday, 22 October 2012

NỮ SINH


Là phụ nữ, chắc hẳn ai cũng đã trải qua một thời áo trắng mơ mộng. Những hình ảnh đẹp của thời yêu kiều con gái, những nét dịu dàng thơ ngây, e ấp trong tà áo màu trinh nguyên luôn là đề tài bất tận cho những vần thơ và những bản tình ca nổi tiếng: Có phải em mang trong áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thả cho tà áo trắng bay
(Thơ Nguyên Sa)
Ngày xưa, sau khi thi đậu vào đệ thất Trưng Vương, lần đầu tiên được khoác lên người chiếc áo dài trắng, tôi đã tự nhủ rằng từ nay ta đã lớn, đã thành thiếu nữ nên phải bớt nghịch ngợm, phải ý tứ và e ấp dịu dàng hơn.
Còn hình ảnh nào đẹp hơn những buổi tan trường, chúng tôi như những cánh én trắng ùa ra từ một tổ ấm là mái trường Trưng Vương yêu dấu, tỏa về khắp nơi để rồi hôm sau lại hội tụ, cùng nhau chơi đùa học tập.

Giờ tan trường từng nhóm nữ sinh chúng tôi, người đi xe trường, kẻ đi bộ, người xe đạp, kẻ xe gắn máy…..những tà áo dài trắng tung bay trong gió trải dài theo con đường Thống Nhất rợp bóng mát trông thật đáng yêu. Theo sau là những “cây si” chỉ dám theo gót chân các nàng mà vẫn còn ngần ngại chưa dám thố lộ “tình anh”, nhưng nữ sinh TV chúng tôi thừa thông minh để biết ai đang để ý mình, biết hết nhưng cứ làm ngơ hầu có thời gian đánh giá sự kiên nhẫn của chàng,

Thưở đó, áo dài trắng của nữ sinh chúng tôi thường được may bằng vải phin nõn, tơ tằm Hồng Hoa hay KT trắng. Vải may áo tuy không mỏng lắm nhưng theo nội quy khắt khe của nhà trường, chúng tôi luôn phải mặc thêm chiếc áo lá ngoài chiếc áo ngực. Hôm nào có em nào làm cách mạng không mặc áo lá là y như rằng sẽ bị bà Nguyệt Minh, Tổng Giám Thị, kêu lên văn phòng để cảnh cáo. Em nào đi học mà xí xọn đánh chút phấn hồng lên má cũng bị khiển trách.


Ngày xưa, tuy là nữ sinh nhưng chúng tôi cũng nghịch ngợm không kém gì nam sinh, nhưng sự nghịch ngợm cũng chỉ trong một giới hạn nào đó thôi. Chúng tôi vẫn tuyệt đối nghe lời bố mẹ, kính trong thầy cô và gặp người khác phái cũng bẽn lẽn, e ấp dịu dàng. Nhưng đó chỉ là chuyện ngày xưa thôi.

Thế giới càng tiến bộ, giới trẻ ngày càng được tiếp xúc với công nghệ và kỹ thuật mới, nhạc trẻ, phong cách sống… cũng dần dần du nhập và ảnh hưởng vào giới trẻ Việt Nam. Kể từ khi internet được phát minh ra, chưa bao giờ thông tin đi nhanh như thế, không có gì xảy ra trên thế giới mà giới trẻ VN không nắm bắt được,

Điều này cũng có mặt tốt là các bạn trẻ giờ đây được cập nhật với những gì đang xảy ra trên thế giới. Nếu giỏi sinh ngữ, có thể lên mạng tìm kiếm tài liệu phục vụ cho việc học tập của mình. Bên cạnh đó, các học bổng du học nước ngoài cũng giúp cho các bạn mà gia đình không khá giả có cơ hội học tập tại những nước tiên tiến.

Về mặt khác, tôi đã đi qua nhiều nước trên thế giới nhưng phải nói là giới trẻ VN khá là phụ thuộc vào gia đình, họ ít có đầu óc tự lập như phần lớn thanh niên những nước khác trên thế giới. Họ vòi vĩnh bố mẹ đủ điều, và yêu sách thì thường là “nếu không có cái đó thì con học không tốt….” thế là cứ đụng đến việc học là các ông bố, bà mẹ cứ quýnh quáng lên vì sợ con bỏ học, từ một yêu sách được đáp ứng, các người trẻ sẽ tiếp tục bài ca vòi vĩnh cha mẹ mình nhiều điều khác nữa. Có thể thấy khắp nơi các khuôn mặt trẻ măng, còn học phổ thông trung học, nhưng đều được trang bị một điện thoại Iphone đời mới, cho dù giá của Iphone ở VN không hề rẻ.

Một quan niệm sai lầm khác nữa là, trừ một số người có hoàn cảnh quá khó khăn phải chấp nhận đi làm thêm kiếm sống như phụ chạy bàn ở nhà hàng, rửa chén, làm “oshin” giúp việc nhà, phụ bán cửa hàng quần áo…. còn thì đại đa số giới trẻ VN coi việc đi làm thêm như thế là xấu hổ, thậm chí nhục nhã.

Đến những nhà hàng ở Mỹ, Thụy Sĩ, Pháp.. tôi đã chứng kiến những thanh niên, thiếu nữ với ngoại hình thật đẹp, khuôn mặt thật ngây thơ, thánh thiện làm nhân viên phục vụ trong các quán ăn. Họ vui vẻ, tươi tỉnh và hãnh diện vì tự mình làm ra tiền. Nhìn lại giới trẻ của đất nước mình tôi vẫn tự hỏi đến bao giờ thì cái quan điểm sai lầm của giới trẻ VN mới được thay đổi?

Nhưng điều tệ hại nhất trong bài này, tôi muốn nói tới tình trạng đạo lý ngày càng suy đồi của đa số những người trẻ VN. Ngày xưa nữ sinh chúng tôi, nếu có bất đồng ý tưởng, cũng chỉ gây gổ và giận dỗi không nói chuyện với nhau thôi. Chỉ có các nam sinh là đôi lúc nổi nóng đánh nhau nhưng cũng rất hiếm. Ngày nay, chuyện nữ sinh túm tóc, xé áo nhau giữa nơi công cộng đã trở thành phổ biến, từ thành phố lớn như Saigon cho tới những tỉnh lẻ, việc quay “clip” nữ sinh đánh nhau, chửi nhau và “post” lên mạng là chuyện xảy ra liên tục. Tiếp theo chuyện đánh nhau giữa các bạn học sinh, chuyện đánh thầy cô bây giờ cũng phổ biến không kém. Có những học trò cá biệt bị thầy cô la mắng, phạt… đã chẳng ngần ngại vào thẳng lớp, vác khúc gỗ hoặc vác dao nện thầy cô đến phải đi nhà thương, nhưng đau đớn hơn, người tiếp tay cho họ chẳng ai xa lạ lại chính là phụ huynh của những học trò cá biệt đó.

Văn hóa và đạo đức suy đồi kéo theo những hành vi không thích đáng và những ngôn từ dung tục. Ngày xưa chúng tôi, những nữ sinh e ấp bao nhiêu thì ngày nay đa số các nữ sinh chẳng quan tâm đến sự đánh giá của những người xung quanh. Trên đường phố mọi người có thể bắt gặp các nữ sinh chở ba thậm chí chở bốn trên một chiếc xe Honda đúng ra chỉ giành cho hai người. Họ nói cười hô hố giữa chốn đông người, nếu có ai đó nhìn họ bằng cặp mắt khó chịu, họ chẳng quan tâm vẫn cứ tiếp tục. Hình ảnh những nữ sinh duyên dáng trong tà áo dài trắng dần dần bị biến dạng theo thời cuộc, vạt áo dài đồng phục được gấp đôi dắt vào cạp quần, tay áo sắn đến cùi trỏ cứ như thể sắp sửa đánh nhau, và nhất là ngôn từ thì không còn kiểm soát nổi nữa. Những điều đó đã phá hỏng cái hình ảnh dịu dàng của cô nữ sinh e thẹn trong tà áo dài ngày nào mà ta vẫn thường hình dung.

Nhưng trên tất cả, điều tệ hại nhất chính là cái thứ ngôn từ họ sử dụng hàng ngày. Ở Saigon việc các nữ sinh dùng những chữ thô tục để nói với nhau, tuy cũng không chấp nhận được, nhưng vẫn còn ở mức độ nhẹ nhàng hơn các thiếu nữ của Hà Thành ngàn năm văn vật. Cách hành xử của người Hà Nội bây giờ, đặc biệt là giới trẻ, thật đáng kinh ngạc.

Vào dịp hoa Anh Đào nở cũng là dịp xuân về, vì miền Bắc thời tiết lạnh, chính phủ Nhật Bản có mang sang Việt Nam trưng bầy một số hoa Anh Đào, loài hoa đặc trưng của xứ sở họ. Người trẻ nô nức kéo nhau đi xem, nhưng chỉ sau buổi trưng bầy đầu tiên, rừng hoa đã trở thành một bãi chiến trường vì họ đã giẫm đạp lên nhau để hái lộc và hái hoa không thương tiếc. Người Nhật đã nghĩ gì về dân tộc chúng ta khi nhìn cảnh tượng tả tơi đó.

Quang cảnh Hồ Gươm (Hà Nội) tơi tả sau đêm Giao Thừa

Đó là chưa kể đến mùa thi, dù Văn Miếu Quốc Tử Giám, nơi thờ những vị tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam, đã được rào lại để ngăn các sĩ tử không bước vào trong sờ lên đầu các “cụ rùa”. Nhưng bất chấp bảo vệ, cảnh sát, các người trẻ cũng xô đẩy nhau và thản nhiên trèo vào sở đầu các cụ rùa vì họ tin rằng điều này sẽ mang may mắn tới cho họ trong kỳ thi sắp đến. Rốt cuộc thì Quốc Tử Giám, một trong những biểu tượng văn hóa của Việt Nam, cứ đến mỗi mùa thi, lại biến thành bãi chiến trường. Báo chí ngày nay gọi đó là “lỗ hổng văn hóa”, đặc biệt đối với giới trẻ Hà Thành.

Lại bàn về những câu nói không được đẹp đẽ phát ra từ những chiếc miệng nhỏ bé xinh xinh của các cô gái Hà Nội. Ngày nay hình như họ cho rằng việc xen những câu chửi thề vào những câu nói chuyện thường ngày không còn là “đặc quyền” của đám đàn ông nữa, hình như họ muốn “bình đẳng giới” cả trong chuyện này. Tôi đã có dịp đứng sau lưng các em gái Hà Nội, xếp hàng chờ làm thủ tục lên máy bay, và tôi đã thật bất ngờ với thứ ngôn từ mà họ sử dụng. Đó là những cô gái có khuôn mặt khá xinh, làn da mịn màng, và những bộ cánh họ đang khoác trên người cũng khá là thời trang. Trầm trọng thay những câu nói tục tỉu ấy đã ngấm vào người các thiếu nữ như một thứ “à la mode” mà đối với họ, hầu như ai không nói thì không phải là “chịu chơi”.

Tệ hơn nữa, những ngôn từ độc đáo đó không chỉ thoát ra ở cửa miệng những cô gái chơi bời trác táng, nó còn thoát ra từ những người con gái con nhà tử tế, học hành đàng hoàng hoặc đang làm việc trong các văn phòng sang trọng.
Những ngôn từ đó tôi không tiện viết ra ở đây, đành mời các bạn vào link dưới đây để đọc một bài báo mới nhất về tình trạng này.
http://tuoitre.vn/Nhip-song-tre/498534/Nu-sinh-vang-tuc---Ky-1-O-dau-cung-nghe.html

Trình độ dân trí của một dân tộc được biểu lộ qua cách hành xử của người dân nơi công cộng, báo chí đã nói rất nhiều về những tình trạng này. Việc giáo dục một con người không chỉ từ một nơi duy nhất là nhà trường mà là sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Phải đợi đến bao giờ thì đại đa số lớp trẻ Việt Nam mới ý thức được những gì họ đang làm là xấu hổ, là vô văn hóa? Ai là người phải chịu trách nhiệm về tình trạng văn hóa tệ hại này? Buồn thay, câu trả lời vẫn còn đang bị bỏ ngõ.

Saigon June 30th 2012

 


NHẬT KÝ KHÔNG THỨ TỰ CỦA MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ


Thứ sáu, 10/10/201…

Buổi chiều nay vừa đi làm về, con bé Lily gọi điện thoại nói bà chuẩn bị mai bố mẹ con sang đón bà lên nhà chơi. Tuy mệt nhưng lòng vẫn vui vì con cháu nhớ tới mình. Bốn đứa con, đứa đã ra trường, đứa lập gia đình ra ở riêng, đứa ở trong “campus” chỉ thỉnh thoảng mới về thăm mẹ, thăm nhà.

Trời hôm nay đã bắt đầu trở lạnh, cái lạnh chuẩn bị tiễn thu đi và đón đông về, lòng buồn man mác vì đã từ lâu nàng sống cô đơn như vậy sau khi chia tay ông chồng đầu ấp tay gối. Trong một lần về Việt Nam chơi, ông ta đã phải lòng một cô gái trẻ, tuy chẳng thuộc gia đình ăn học tử tế, nhưng hình như đến một tuổi nào đó, một số đàn ông họ không còn quý cái giá trị của gia đình mà hối hả đi tìm những thú vui mang lại cho họ cảm giác trẻ lại. Những người phụ nữ mà trước đó có thể họ đã trề môi dè bỉu, nào là “sến”, nào là ít học, thì nay họ ôm gọn trong vòng tay không chút ngại ngần mà còn đôi lúc hãnh diện vì có được một cô bồ “nhí”.

Tắm vội vòi sen nước ấm, nàng lau mình và leo lên giường, nhìn qua khung cửa số tới mảnh vườn con trước nhà. Các cây hoa vẫn nở đủ mầu sắc, nàng nằm đó chẳng nghĩ tới ăn tối, thường thì cũng chỉ là một chén cơm với một chút thịt kho hay mắm chưng. Dù ở nước ngoài đã mấy chục năm nhưng nàng hoàn toàn không ăn được các món ăn phương tây, cứ chút rau cà mắm đậu là đủ một bữa cho nàng. Nàng nằm đó nghĩ về những biến cố đã qua trong cuộc đời mình.

Cái ngày hai vợ chồng xách 3 đứa con vượt biên từ Việt Nam, may mắn không gặp cướp biển, được đón lên đảo Bidong rồi lên đất Mỹ, những tưởng cuộc đời từ nay đã mỉm cười với mình. Hai năm sau một đứa con nữa ra đời trong sự vui mừng của hai vợ chồng vì đó là đứa con trai và cũng là đứa cháu trai duy nhất của giòng họ nội. Hai vợ chồng cùng lo làm ăn, chồng đi làm nuôi vợ ăn học và khi vợ đã có tấm bằng trong tay thì tới phiên chồng. Gia đình nàng tuy không phải là triệu phú nhưng cũng là mơ ước của bao nhiêu người tha hương trên đất khách quê người. Vợ chồng chăm chỉ làm ăn, tích góp mua được căn nhà. Các con cũng học hành chăm chỉ, dần dần đỗ đạt chỉ còn thằng út là còn phải tiếp tục hai năm cuối đại học là nàng xong nợ con cái.

Nhưng định mệnh trớ trêu, đúng lúc nàng đang vui hưởng hạnh phúc gia đình thì ông chồng về thú nhận mọi việc và tuyên bố muốn về VN sinh sống. Dĩ nhiên với chút lương hưu ở Mỹ, ông có thể về VN sống tuy không xa hoa nhưng cũng đầy đủ kẻ hầu người hạ, kèm thêm một phụ nữ trẻ nâng khăn sửa túi.

Nàng đã sững sờ khi nghe lời yêu cầu của chồng mình, là anh đó sao? người đàn ông duy nhất mà nàng yêu và nghĩ sẽ sống suốt cuộc đời còn lại thế mà! Nhưng tự ái không cho phép nàng năn nỉ hay cầu xin gì, những thủ tục ly dị được xúc tiến ngay sau đó.

Nàng không bao giờ có thể ngờ rằng đến một ngày hai vợ chồng phải ra tòa để tranh giành nhau từng ty từng tí một, cái gì cũng được chia đôi, căn nhà đã đành, nàng chấp nhận “thối” lại tiền cho ông chồng để giữ lại căn nhà cho mình và các con sinh sống. Còn bao nhiêu thứ khác phải phân xử nhưng nàng “shock” nhất là những hóa đơn điện nước cũng được ông chồng chi li từng chút. Ngày nào hai vợ chông còn chung sức xây dựng một mái ấm gia đình, ngày nay trước tòa như hai kẻ thù không nhìn mặt nhau.

Cũng may là nàng đang sống và đã là công dân của một đất nước văn mình nên quyền lợi của người phụ nữ được bảo đảm tới mức tối đa. Như các bạn nàng còn ở lại VN nghe nói, khi ly dị chỉ được hưởng tiền trợ cấp tính ra bằng ít kg gạo mà cũng chẳng có chế tài nào buộc các lão chồng phải chấp hành thật là tội nghiệp.

Thứ hai…

Buổi sáng thứ hai bao giờ cũng làm cho mọi người ngao ngán sau ngày nghỉ cuối tuần, dù đây là một cái Job mà nàng yêu thích nhất từ trước tới giờ nhưng cũng không tránh được cái uể oải của buổi làm việc đầu tuần. Sau buổi ăn trưa, nàng được thư ký của tên giám đốc người Mỹ mời lên văn phòng. Lòng cũng lo lo, không biết hắn sắp giao cho mình việc gì mới hay khiển trách mình về việc gì, nhưng tự xét lại bản thân nàng luôn luôn hoàn thành tốt công việc được giao nên nỗi lo lắng cũng chẳng kéo dài. Hồi này kinh tế khó khăn, chỉ có một khả năng duy nhất là những người làm lâu năm và có nhiều kinh nghiệm như nàng có thể bị “retrenched” để hãng thuê mướn những người trẻ hơn, tuy ít kinh nghiệm nhưng trả lương thấp hơn, tiết kiệm chi phí cho hãng.

Đúng 3 giờ nàng lên gặp Giám Đốc, hắn báo tin rằng nàng đã được thăng chức lên trưởng phòng, vừa vui mừng vừa lo lắng, xen chút hãnh diện vì được sếp tin tưởng giao phó trọng trách.

Buổi chiều về nhà, việc đầu tiên nàng làm là gọi điện thoại báo tin mừng cho các con. Đứa bày tỏ niềm vui, đứa lo lắng vì chắc chắn trách nhiệm sẽ nặng nề hơn. Sau đó là đến cô bạn thân nhất, người đã thường chia xẻ với nàng những lúc khó khăn trong cuộc đời.


Thứ năm…..

Buổi chiều nay đi làm về, nàng cảm thấy trong người không khỏe, cứ như ngai ngái sốt. Nàng luôn nghĩ mình khỏe mạnh vì nàng chẳng hút thuốc, cũng chẳng uống rượu, lối sống thật là “healthy”. Chỉ có điều do công việc quá bận rộn, nàng chẳng bao giờ ra khỏi sở trước 7 giờ tối nên không có thì giờ tập thể dục.

Hôm nay tự nhiên thấy nhớ mấy đứa cháu ngoại, nàng lái xe thẳng lên nhà con gái thăm hai đứa, nghe chúng nó mách nhau mà lòng thật vui. Những đứa cháu mang hai giòng máu, nhưng có nét Á đông nhiều hơn, nên trông thật xinh xắn đáng yêu. Bây giờ chúng là lẽ sống của nàng và tuần nào cũng vậy, ít nhất một lần nếu bố mẹ chúng không chở xuống thăm thi nàng cũng phải lọ mọ lên nhà thăm chúng.

Thằng con rể người Mỹ hiền lành dễ chịu, yêu quý vợ con làm nàng an tâm con gái mình đã tìm được người tốt, tuy đôi lúc cũng hơi lo nghĩ chẳng biết ra sao ngày sau chỉ cầu mong chúng đừng rơi vào tình trạng như mình.

Thứ ba………….

Những ngày kế tiếp, nàng cũng thấy không khỏe lắm và người vẫn tiếp tục ngây ngấy sốt. Nói chuyện với một con bạn thân, nó bảo “mày phải đi làm X-ray phổi đi vì có thể mày bị phổi nên hay sốt đấy”. Nghe lời bạn, nàng xin BS của mình cho đi chụp hình phổi để kiểm tra, kết luận phổi trong tốt, không tì vết. BS nói có lẽ do làm việc quá sức có thể nàng bị mệt mỏi vài ngày sẽ hết với điều kiện giảm bớt giờ làm việc lại.

Nghe lời BS mấy hôm đầu nàng quyết định ngừng việc lúc 18:00, nhưng chỉ được vài ngày công việc lại cuốn hút nàng vào và lại phải đến 19:00 mới rời văn phòng. Một lý do khác nữa là về nhà làm gì vì rốt cuộc cũng chỉ có một mình, còn nhà con gái chẳng lẽ ngày nào cũng bò lên làm phiền vợ chồng chúng, thôi thà ngồi trong văn phòng làm cho xong việc, vừa giết thời gian, vừa không phải nghĩ ngợi lung tung.

Thứ bảy….

Hôm nay nghỉ ờ nhà, mới chỉ cắt tỉa vài cụm hoa trong vườn mà sao nàng đã thấy mệt vã mồ hôi, hai má nóng bừng. Nàng thử cặp thủy thì thấy mình lại sốt 38 độ, lại điện thoại cho nhỏ bạn thân là BS, nó bảo
- Nếu phim phổi mày OK mà vẫn sốt thì nên đi BS để xin check up tổng quát lại vậy
- Nhưng hãng mới cho tao làm “check up” mới có 6 tháng trước thôi - nàng cố cãi bạn
- Thì tao lo cho sức khỏe mày đề nghị mày thế còn tùy mày… - nhỏ bạn bắt đầu hơi giận dỗi.
- Thôi được để thứ hai tao vào hãng tìm người thay rồi xin đi khám tổng quát lại

Thứ năm………

Hôm nay đang làm việc, nàng nhận được một số điện thoại lạ, hóa ra đó là của vị bác sĩ thuộc clinic mà hãng chỉ định nhân viên đến khám sức khỏe. Ông BS nói rằng cần gặp nàng để bàn chút việc riêng, một linh cảm không hay chợt vụt qua đầu, nhưng nàng lại tự an ủi “mà chắc chẳng sao đâu…”

Tan sở nàng chạy vội lại clinic, ông BS có vẻ nôn nóng khi đợi nàng, người bệnh nhân cuối cùng.
- “I am afraid that……………….”
Nàng chỉ nghe ông BS nói đến thế thì lỗ tai ù không nghe thấy gì nữa. Nội dung là sau những xét nghiệm máu mà nàng vừa làm mấy ngày trước, ông nghi ngờ nàng bị ung thư máu vì có sự xuất hiện của một số tế bào lạ, nàng muốn hét lên thật to “không thể như thế được…..” nhưng rồi lại im lặng và hỏi
- Vậy tôi phải làm gì kế tiếp?
- Tôi sẽ gởi bà đi làm thêm một xét nghiệm máu nữa

Suốt ngày hôm đó nàng không ăn được gì vào bụng nữa, buổi tối trở về nhà nàng thấy mình như người đã chết. Nếu sự thật chuyện đó xảy ra thì sẽ ra sao, cuộc sống đang yên bình với các con các cháu sẽ bị đảo lộn như thế nào? Nàng cứ nằm trên giường mà trằn trọc mãi dù cố dỗ giấc ngủ đề ngày mai còn dậy sớm đi làm, gió ngoài khung cửa sao cứ rít lên từng hồi tựa như đang than trách cho số phận hẩm hiu của nàng.

Chủ nhật…

Lại một weekend nữa trôi qua, lại lái xe lên gặp con cháu, nhưng nàng chưa muốn nói cho chúng nghe tình trạng của mình khi chưa biết kết quả lần xét nghiệm thứ hai. Con gái hỏi:
- Mẹ có gì lo nghĩ ở hãng không?
- Không không có gì hết, mẹ chỉ hơi mệt thôi
- Cu Bi lại chơi kéo co với bà kìa

Nàng cố quên mọi việc để chơi với hai đứa cháu ngoại đáng yêu của mình, một ngày nào đó không xa nàng sẽ chẳng còn được gặp chúng nữa, nghĩ đến đấy tim nàng thắt lại..

Sau khi dùng cơm tối với gia đình con gái xong, nàng lại lái xe về. Con đường hôm nay sao dài lê thê, nàng vừa lái xe vừa suy nghĩ đến cái giờ phút khó khăn khi phải nói với con về bệnh tình của mình. Khi thì nàng định nói với đứa con gái đầu để nó nói với các em, khi thì nàng thấy không nên đặt gánh nặng đó lên vai con bé lớn nhất mà chính nàng phải là người báo cho các con biết cái tin khủng khiếp đó. Sau những sợ hãi tột cùng về cái chết, có những lúc nàng cũng cảm thấy thanh thản khi nghĩ rằng, thôi thì thế cũng xong một đời người, ai chẳng phải chết, ít nhất thì con mình cũng đã trưởng thành và ra trường đại học, chỉ còn thằng út chẳng lẽ ba chị nó không lo được cho nó.

Buổi tối nàng thiếp đi vì quá mỏi mệt, cả tinh thần lẫn thể xác. Nàng mong cho mau tới sáng thứ ba vì đó là ngày mà bản án tử hình của nàng được chính thức xác nhận.

Thứ ba…..

Trong cuộc đời có những ngày người ta mong mỏi nó đến sớm vi mang lại tin tốt lành, nhưng cũng có những ngày người ta biết trước nó sẽ mang tin xấu mà vẫn mong mỏi, trong sự tuyệt vọng bao giờ cũng lóe lên một chút hy vọng dù nhỏ nhoi.

Buổi chiều nàng đến phòng mạch BS cùng con gái lớn như lời yêu cầu của bác sĩ. Dù đã chuẩn bị tinh thần nhưng chân nàng vẩn như khuỵu xuống khi nghe BS tuyên bố:
- I’m so sorry to let you know the bad news ………
Chỉ đến đó thôi là tai nàng lại lùng bùng không còn nghe thấy gì nữa, nàng chỉ còn biết cám ơn BS và kiếu từ ra về sau khi ông đã viết giấy “refer” nàng sang một “specialist” để chữa bệnh ung thư máu.

Nàng ngồi trên xe yên lặng bên con gái, hai hàng nước mắt chẩy dài. Nàng cầu mong sao có một sự cố gì đó xảy ra giúp nàng kết liễu cuộc đời khốn khổ này nhanh chóng hơn, tại sao có biết bao nhiêu người trên thế gian này mà điều xấu lại rơi vào đúng ngay nàng, tại sao sau bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời, ông trời vẫn không tha cho nàng…

Về đến nhà nàng bắt đầu nhìn từng góc nhà, sờ từng đồ vật như thể chỉ vài ngày nữa thôi là nàng phải bỏ lại tất cả phía sau để về bên kia thế giới. Rồi những chiếc sofa, những cái giường, cái tủ, cái kệ sách … những thứ đã quen thuộc mỗi ngày với nàng sẽ không còn nhìn thấy chủ nó nữa, chúng sẽ vẫn còn đây trơ lì mãi mãi trong khi thân xác nàng sẽ từ từ thối rữa ra. Thượng đế ơi, con có làm gì nên tội mà phải chịu nhiều đau khổ, hay tại kiếp trước con tàn ác nên kiếp này phải trả?


Thứ tư…

Nàng gọi điện thoại vào sở cho tên Giám Đốc, xin nghỉ bệnh, có còn gì nữa đâu mà phải giữ gìn cái “job” đã nuôi sống mình và các con bao nhiêu năm qua. Đối với nàng bây giờ chẳng có gì còn quan trọng trên cõi đời này bằng sự sống, nàng vẫn muốn sống để nhìn thấy các cháu trưởng thành, để khi về hưu có thể cùng các bạn già đi chùa làm từ thiện mà sao trời chẳng chiều lòng. Nàng nhìn xung quanh mình, thầm ghen tị với những người bạn vừa có hạnh phúc gia đình vừa có sức khỏe tốt, sao lại là ta hở trời?

Thứ sáu....

Rốt cuộc thì nàng cũng phải báo cho sở biết vì sẽ phải mất thòi giờ đi làm chemo, tối qua nàng cũng đã lấy hết can đảm nói chuyện với các con về bệnh tình của mình. Con bé thứ ba khóc ngất, còn hai đứa lớn và thằng út thì chỉ sụt sịt chút ít, dù sao chúng cũng thấm nhuần cái văn hóa của người phương tây là không khóc lóc thảm thiết như người phương đông khi có chuyện buồn.

Những buổi chemo đầu tiên làm nàng cảm thấy buồn nôn nhưng những cơn sốt cũng không còn. Mỗi lần chemo xong nàng trở về nhà nằm vật vã vài tiếng trước khi có thể ngồi dậy nấu cho mình chút đồ ăn. BS không bắt kiêng gì nhưng có sơn hào hải vị bây giờ đặt trước mặt nàng, nàng cũng chẳng thèm muốn. Tự nhiên nàng có một ý nghĩ thật ngộ nghĩnh phải chi ông trời cho nàng đổi tất cả những gì đang có, công việc, nhà cửa, tiền trong tài khoản ngân hàng …. chỉ để cho nàng cuộc sống êm đềm như bao nhiêu người bình thường khác.

Rồi cuộc chiến với căn bệnh nan y cứ tiếp diễn ngày qua ngày, nàng ghét những ánh mắt thương hại của đồng nghiệp, ghét cả những câu an ủi của BS rằng nếu tích cực chữa chạy rồi cũng qua. Tại sao ông ta hèn hạ không nói thẳng với nàng rằng bà chỉ còn vài tháng nữa nên cứ bình tĩnh làm những gì mình thích rồi ra đi nhẹ nhàng, thế có phải hơn không?

Ngày xưa nàng rất sợ chết, đi máy bay sợ rớt, lái xe sợ có đứa say rượu đâm xầm vào, đi ngang qua cầu thì sợ cầu sập… những cái sợ thật vu vơ và giầu tưởng tượng khiến cho lũ bạn luôn cười nhạo nàng. Giờ đây đến gần với sự chết, nàng bỗng dưng gan dạ ra, mà không gan dạ cũng chẳng có lựa chọn nào khác, nàng chỉ sợ đau đớn vì đã chứng kiến một người đồng nghiệp vì “cancer” tử cung, trước khi mất đã rống lên đau đớn như một con vật bị chọc tiết.

Chủ nhật…

Hôm nay các bạn nàng đề nghị kéo đến thăm, đã hơn hai tháng nay nàng không tham dự bất kỳ buổi họp mặt nào, nàng thật sự chẳng muốn lũ bạn chứng kiến sự tiều tụy, xuống sắc của mình. Nhưng làm sao được khi chúng cứ nhất quyết ghé thăm, các bạn nàng ngày xưa chung một mái trường, giờ đây ai cũng có tuổi, có con có cháu, có nhiều mảnh đời khác nhau hoàn toàn. Nhưng nàng nghĩ dù có đau khổ chật vật khó khăn như thế nào thì họ cũng vẫn hạnh phúc hơn nàng vì họ đang có sức khỏe, chưa bao giờ nàng thèm có sức khỏe như bây giờ. Họ cố cười nói, làm trò hề cho nàng cười nhưng miệng cười mà trong lòng méo xệch, nàng thèm quá những thân thể khỏe mạnh, những ngày vui chơi đây đó cùng đám bạn thân.

Cuộc vui rồi cũng tàn, sau khi giúp dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, các đứa bạn cũng kiếu từ ra về. Giá như lúc xưa còn khỏe, thế nào nàng cũng ngồi dậy sắp xếp lau chùi lại bếp núc và chén bát theo ý mình, nhưng hôm nay phần vì mệt mỏi, phần chán nản, nàng cứ nằm ý ra đó chẳng thiết làm gì.

Thứ ba…

Hôm nay đã là bốn tháng nàng không còn đến sở làm việc, mà theo như các đồng nghiệp thì công việc của nàng cũng đã có người thay thế vì cuộc mưu sinh vẫn phải tiếp diễn với bao người khác và dù theo lời của tên Giám Đốc thì cũng chỉ là thay thế tạm thời chờ nàng bình phục.

Chưa bao giờ nàng thấy mọi người giả dối với mình như thế, cứ nói thật ra rằng bệnh của nàng là bệnh nan y không chữa khỏi, cứ cho nàng biết mình sắp từ giã cõi đời để nàng có thể chuẩn bị mọi thứ cho con, cho cháu sau khi mình từ giã cõi đời.

Nàng chợt nhớ tới mẹ mình, cũng may mẹ đã mất nếu không lại đau khổ vì căn bệnh của mình. Nàng nhớ cả ngày xưa khi còn khỏe mạnh, nàng vẫn thường thương tiếc và đau xót cho những người chết bất đắc kỳ tử, vì “stroke”, vì “heart attack”, vì đụng xe, những người mà chỉ vài phút trước vẫn vô tình không biết đó là những phút cuối cùng của cuộc đời mình và nàng vẫn thầm mong nếu có tới số thì cho nàng biết trước để chuẩn bị những gì còn lại cho người thân. Giờ đây khi đối diện với cái chết đang ngày càng tới gần, nàng bỗng thấy khó khăn và sợ hãi vô cùng, thật là không có cảm giác nào ghê sợ hơn cảm giác mình sắp nhắm mất xuôi tay mà bất lực không làm gì được.


Thứ bảy…

Các con từ khi nghe tin nàng bịnh, hầu như cuối tuần nào cũng thu xếp để mang các cháu về chơi với mẹ, hình như chúng cũng đang chạy nước rút với thời gian còn lại ít ỏi của mẹ. Hôm qua nàng vừa được BS cho truyền máu, lúc truyền xong thì cũng khỏe ra nhưng hôm nay cơn sốt lại đến, nàng chỉ chơi được với đám trẻ con chừng nửa tiếng thì cảm thấy mệt và ngộp thở đành từ giã các cháu vào phòng nằm.

Chưa bao giờ mà trời mưa nhiều như năm nay, những cơn mưa bất chợt đến và qua đi nhanh chóng như những phút giây hạnh phúc ngắn ngủi trong cuộc đời nàng. Nàng nằm trên giường nhìn cây cỏ vươn cao xanh mướt xen lẫn hoa lá đủ màu, những con hummingbird đủ màu đang nhảy nhót ca hót trên những cành cây còn lắng đọng những giọt mưa, một bức tranh thiên nhiên thật đẹp. Hình như khi mưa đến, cây cỏ luôn xanh tốt hơn, rồi tất cả sẽ vẫn hiện hữu, vẫn đẹp đẽ như thế này ngay cả khi nàng không còn nữa, chúng hình như đang vô cảm với nỗi đau của nàng. Thiếp đi trong giấc ngủ, nàng vẫn mơ hồ nghe tiếng cười đùa của các cháu ngoại bên ngoài, nàng có cảm giác như mình đang từ trên những tầng mây cao vút tuột mình rơi xuống thật nhẹ nhàng, không sợ hãi không đau đớn mà êm dịu đến lạ thường.

Thứ hai......

Ôi sao mọi người hoảng hốt chung quanh nàng, lại có cả “ambulance” ghé nhà nàng, các con nàng chạy ngược chạy xuôi lo lắng…….chỉ đến khi vị BS đến thăm nàng và tuyên bố rằng đã tuyệt vọng vì nàng đã không còn thở, không còn nhịp tim nữa, các con nàng bụm miệng lại để không bật ra tiếng khóc thì nàng mới biết là mình đã chết, đã không còn tồn tại trên cõi đời nữa.

Nàng cố khều tay gọi đứa con gái lớn mà sao cánh tay không nhấc nổi lên, nàng cố kêu lên khe khẽ rằng “con ơi, mẹ vẫn còn tỉnh, còn thấy tất cả..” mà sao đầu lưỡi tê cứng. Sự chết là như vậy sao? Ta vẫn thấy, vẫn cảm nhận được những người xung quanh mà chẳng ai hiểu ta nữa sao?

Thứ ba…

Nàng không còn được nằm nhà nữa mà người ta bỏ nàng vào một căn nhà khác, xung quanh nàng tràn ngập hoa lá đủ mầu sắc, tỏa hương thơm phức. Rồi lần lượt bao nhiêu người thân và bạn bè đến viếng thăm, những cô bạn mọi ngày vẫn vui cười chọc ghẹo nàng sao hôm nay mang bộ mặt trang trọng đến lạ thường. Sao ai cũng u sầu khóc lóc trong khi nàng vẫn hiện hữu ở đây trước mặt họ. Nàng muốn ngồi dậy cám ơn họ và nói cho họ biết rằng nàng thấy rất thanh thản nhẹ nhàng, đầu óc minh mẫn, không còn những cơn sốt hành hạ nữa, thế mà không được.

Tại sao mọi người lại khóc, tại sao mọi người không mừng cho nàng đã thoát ra những đớn đau của thể xác, tục lụy của trần gian. Nàng chỉ nuối tiếc một điều đã không sống thêm một thời gian nữa với các con, các cháu.

Rồi người ta đem nàng vùi lấp vào lòng đất, hồn nàng thoát ra nhẹ nhàng, từ đây nàng có thể thanh thản ghé thăm những người thân yêu của mình, dù họ không thấy nàng, nhưng nàng luôn bên cạnh họ để phù hộ cho họ trong cuộc sống đầy phù du này.

Nàng muốn nhắn nhủ với mọi người hãy ngừng u sầu, ngừng khóc than cho nàng vì nàng thực sự vẫn sống và sống thanh thản. Nàng muốn mọi người hãy chấp nhận cái chết một cách tự nhiên và nhẹ nhàng như một ni sư đã nói với nàng “con ơi, khi ta chết cũng chỉ giống như ta khoác một chiếc áo khác thôi”. Chợt những câu thơ của ai đó mà ngày xưa nàng rất yêu thích lại hiện về trong đầu nàng:

Người ơi nếu một mai tôi chết
Đừng khóc lời buồn buổi tiễn đưa
Đừng trồng hoa thắm nơi an nghỉ
Đừng cắm hoa tang trước mộ bia
Hãy để cỏ non xanh biếc mọc…..

Vâng hãy để cỏ non mọc thật xanh biếc, một cách thật tự nhiên vì nàng là người yêu thích thiên nhiên và sự đồng cảm nhẹ nhàng, nếu còn nhớ đến nàng hãy thỉnh thoảng ghé ngang, thắp cho nàng một nén hương tưởng nhớ, thế là quá đủ cho một cuộc đời….

Saigon July 24th 2012