Wednesday, 12 October 2011

NHỮNG MẤT MÁT TỪ CUỘC CHIẾN



ImageShack.us

Câu chuyện này xin dành tặng cho chị Phạm Thị Thu, TV 59-66 để chia xẻ những mất mát và khổ đau mà chị đã phải chịu đựng



Thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam, tôi còn là một cô bé áo trắng tung tăng cắp sách tới trường với bao mộng đẹp của tuổi mới lớn. Tôi hầu như hoàn toàn bị cô lập với thế giới của chiến tranh mà các đồng bào tôi đang phải gánh chịu ở khắp nơi trên đất nước. Đôi khi xem báo hoặc xem TV thấy có một trận đánh lớn nào đó hoặc ở An Lộc hoặc ở Quảng Trị, số người hy sinh là bao nhiêu, cảnh đồng bào ở quê lếch thếch bồng bế nhau chạy khỏi làng để tránh chiến tranh cũng khiến lòng tôi bùi ngùi khó tả. Nhưng những bùi ngùi đó cũng chỉ thoáng qua rất nhẹ nhàng thôi, không để lại trong tôi một xúc động mạnh mẽ nào cho đến ngày tôi phải chứng kiến sự ra đi của chính một người trong gia đình mình, một ông anh cùng cha khác mẹ với tôi.

Anh tên là Đào Quang Chính, khóa 17 Sĩ Quan Hải Quân. Hai anh em tôi tuy cùng cha khác mẹ nhưng thân thiết nhau hệt như cùng cha cùng mẹ đẻ ra. Hai bà mẹ: mẹ anh và mẹ tôi cũng vô cùng gần gũi nhau, có lẽ vì mẹ anh là người bỏ bố tôi đi lấy chồng khác nên chẳng có sự oán hận nào giữa hai người đàn bà. Mẹ tôi thương anh Chính như chính con ruột của mình, mẹ anh mà chúng tôi hay gọi là Mợ Năm dĩ nhiên cũng rất thương đứa con duy nhất của bà nhưng tính bà lãng mạn và không nền nếp lắm nên anh Chính do đó không được chăm sóc kỹ mà thường được gởi cho mẹ tôi nuôi dậy. Mợ Năm tôi là một người đàn bà đẹp vô cùng, nét thanh thoát hiện rõ trên khuôn mặt của bà trong một bức ảnh mà tôi vẫn còn giữ đến tận bây giờ.

Anh Chính và tôi rất thân nhau, có lẽ vì anh không có em gái ruột nên anh rất chiều chuộng tôi. Tôi vẫn nhớ như in ngày tôi vừa đậu vào đệ thất Trưng Vương thứ hạng 5, anh là người đã dắt tôi sang các nhà hàng xóm để khoe em mình vừa đậu đệ thất vì lúc ấy thi tuyển vào đệ thất TV đã là khó mà còn đậu hạng năm nên anh rất hãnh diện về cô em gái mình. Mợ Năm và bố tôi chỉ có mình anh Chính, nên anh coi anh em chúng tôi như anh em ruột của mình. Học xong Tú Tài hai anh gia nhập khóa 17 Sĩ Quan Hải Quân, tôi thích ngắm nhìn anh trong bộ đồng phục trắng của Hải Quân, thật đẹp và thật oai. Nhất là khi anh ghé nhà tôi chơi cùng vài anh bạn mỗi khi nghỉ phép, các anh đều mặc đồng phục sĩ quan Hải Quân trông uy nghi vô cùng. Mãi đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao trên tàu đầy dầu nhớt mà các anh có thể giữ bộ quần áo mãi trắng sạch như vậy.

Sau khóa huấn luyện anh chính thức trở thành Thiếu Úy Hải Quân, mỗi khi về phép anh đều ghé thăm gia đình tôi. Những lần ghé thăm là có quà dành cho từng đứa em một và nhất là cho mẹ tôi, người mà anh coi trọng không thua gì mẹ đẻ anh. Bố tôi cũng yên tâm vì anh vào được Hải Quân, dù sao cũng đỡ hơn các binh chủng khác không đi đánh trận nhiều và ít thương vong hơn. Anh Chính tôi là người đàn ông không đẹp trai xuất sắc nhưng rất duyên dáng dễ thương, anh có cả lô cả lốc các cô bồ, cô nào cũng xinh xắn dễ thương. Tôi còn nhớ ngày xưa mỗi khi anh đem một cô bồ tới nhà tôi chơi, không có bố mẹ tôi ở nhà, anh lại cho tiền 4 anh em chúng tôi đi cyclo lên tận Casino Saigon để mua cóc, ổi, soài ngâm về ăn. Hồi đó tôi ngây thơ lắm, vui vì được đi cyclo lên trung tâm SG mà chẳng hề có chút thắc mắc nào vì tiền cyclo hai lượt còn đắt hơn gấp 10 lần tiền mua quà. Mãi sau này tôi mới biết rằng anh muốn lũ em nghịch như quỷ đi cho khuất mắt để anh còn tình tự với cô bồ.

Rồi ngày tháng dần trôi, lũ em càng ngày càng lớn, anh được thăng cấp trung úy rồi đại úy và tôi cũng lên đến đệ tam Trưng Vương. Cái tuổi mới lớn nhiều mơ mộng, cũng có vài người bạn của anh để ý tới tôi, nhưng sau một lần dắt tôi đi chơi chung với các bạn anh về, anh đã bị bố tôi mắng cho một trận tơi bời, nào là em nó còn bé (đệ tam mà còn bé gì) không cho dính dáng đến tình cảm để nó học, nào là đời lính nay đây mai đó không cho nó lấy chồng lính….

Rồi một ngày anh Chính đã làm chúng tôi sửng sốt khi bỏ tất cả các cô bồ xinh đẹp lại sau lưng, trong số đó có một nhỏ bạn rất xinh của tôi, để xin bố tôi được cưới chị Thu, sau này là chị dâu tôi. Chị Thu cũng là học sinh Trưng Vương nhưng trước tôi 4 năm, niên khóa 59-66, chị là mẫu người đàn bà xinh đẹp dịu dàng và an phận. Chị Thu lúc đó đã ra trường và đang làm cho Air Việt Nam ở bộ phận bán vé, ngày chị Thu nhận lời làm đám cưới với anh Chính tôi, tôi thầm lo cho chị vì anh tôi rất lãng mạn và có khá nhiều bóng hồng nhưng đau đớn thay vợ chồng anh đã không chia lìa nhau bởi một người thứ ba mà là bởi sinh ly tử biệt. Lúc trước anh Chính tôi lãng mạn bao nhiêu thì sau này khi cưới vợ, anh đã hoàn toàn dứt bỏ được những cái đuôi lòng thòng để chuyên tâm chăm sóc gia đình nhỏ của mình.

Tôi vẫn nhớ như in ngày đám cưới anh Chính thật vui, chẳng ai biết chúng tôi là anh em cùng cha khác mẹ, chỉ đến khi hai bà mẹ xuất hiện thì mọi người mới hiểu chúng tôi không hoàn toàn cùng huyết thống. Mẹ tôi, người chăm sóc anh còn nhiều hơn bà mẹ ruột, đã tặng cho chị một xâu chuỗi hai lượng vàng 24 K làm theo kiểu các hạt nhỏ li ti gắn với nhau, loại vòng cổ mà thời đó dành cho cô dâu rất được ưa chuộng. Anh Chính đứng lên cảm tạ công ơn dưỡng dục của cha mẹ, anh nói anh có hai bà mẹ nhưng anh rất biết ơn mẹ tôi vì đã chăm sóc anh tận tình và hết lòng với anh. Tôi thấy mẹ tôi lấy khăn tay chùi đôi dòng nước mắt khi anh nhắc đến tình thương mẹ tôi dành cho anh, một đứa con chồng.

Cuộc đời cứ thế mà êm ả trôi, cả gia đình tôi vui mừng đón đứa cháu nội đầu tiên một năm sau đó, thằng Cu Duy giống anh như đúc, cũng đôi mắt một mí như Nhật Bản, cũng thân hình hơi đậm và làn da hơi ngăm ngăm. Hai vợ chồng anh mua sắm nhà mới, chị vẫn làm cho Air Việt Nam còn anh thì đóng ở Cần Giờ rất gần Saigon nên mỗi cuối tuần hầu như anh đều về nhà thăm viếng gia đình. Anh Chính tôi là một sĩ quan chỉ huy được thuộc cấp yêu mến vì anh rất vui tính hòa đồng, ngoài những nguyên tắc bắt buộc trong quân đội, anh chẳng bao giờ ra oai với thuộc cấp của mình.

Chị dâu tôi sinh năm một, khi cu Duy mới được hơn một tuổi thì chị Thu tôi lại có mang thêm đứa con thứ hai, anh đã mong muốn đứa con thứ hai là con gái, ngày chị trở dạ sinh em bé, anh cũng vội vã về phép để đón đứa con mới chào đời. Nhưng ngược với ước vọng của anh, kỳ này lại là một bé trai, lúc đầu anh cũng hơi thất vọng nhưng sau khi nhìn thấy con mình, anh đã vui lại và đặt tên thằng bé là Cu Ba dù thằng anh không được đặt tên là Cu Hai. Anh vui sướng sống hạnh phúc cùng vợ và hai đứa con trai kháu khỉnh dễ thương, đó là những đứa cháu đầu tiên trong gia đình tôi nên tất cả mọi thành viên đều hết mực yêu quý chúng.

Cuộc đời cứ êm đềm trôi, trong tâm trí của một đứa con gái mới lớn, nhìn gia đình hạnh phúc của anh chị mình, tôi cũng ôm ấp giấc mộng rằng một ngày nào đó mình sẽ lập gia đình và cũng hạnh phúc như thế. Nhưng trời chẳng chiều lòng người, đúng lúc cái gia đình nhỏ bé ấy đang sống những giây phút êm ả hạnh phúc nhất thì thảm họa xảy đến. Tôi còn nhớ hôm đó là một buổi trưa thứ bảy, khi đi học về đến nhà, tôi thấy cả nhà hoảng hốt khóc, bố tôi ngồi trầm tư không nói một lời, mẹ tôi chết điếng đau đớn khi nhận được hung tin anh Chính đã mất.

Trên chiếc tầu đi tuần dọc eo biển Cần Giờ, khi đi sát vào hai bên bờ, anh đã bị một loạt đạn súng cối bắn thẳng vào ngực từ một bụi rậm. Theo lời kể của các sĩ quan thuộc cấp, anh tôi chỉ kịp lấy tay vuốt giòng máu đang chảy ra từ trái tim của chính mình và sau đó không còn biết gì nữa. Mọi người vội cho tầu cập bến, đưa anh vào bờ cứu cấp nhưng tất cả đã quá muộn.

Tôi được mẹ tôi cử đi ngay đến nhà anh để cùng chị dâu tôi đi nhận xác anh, có phút giây nào đau đớn và thê thảm hơn phút giây đi nhận xác người thân trở về vô tri vô giác. Tôi đến nhà chị Thu, hình như chị đã không còn là chị nữa, tôi không thấy chị khóc, nỗi đau có thể đã quá lớn khiến chị như trở thành một con người thất thần hoàn toàn. Hai đứa cháu tôi, đứa hơn 2 tuổi, đứa mới thôi nôi được vài tháng, một đứa đang lê la trong xe tập đi, còn đứa kia vừa được cho bú no nằm ê a trên giường, chúng đâu có hiểu rằng có người đã vừa lấy mất một thứ quý giá nhất trên đời của chúng:tình phụ tử. Tôi muốn hét lên thật lớn cho thấu tim ông trời ông Phật, sao nỡ chọn đúng anh tôi, sao lại mang anh tôi đi khi gia đình đang hạnh phúc, khi hai con anh còn quá nhỏ. Sao nỡ bắt chị dâu tôi phải mang vành khăn tang chồng khi còn quá trẻ, chị tôi mới chỉ có 26 tuổi thôi mà….

Rồi thì chúng tôi cũng phải gạt nước mắt để đi nhận xác anh về, buổi trưa hôm ấy trời nắng thật gắt, hai chị em tôi lên đường hướng về Cần Giờ trên một chiếc taxi. Người ta báo tin đang chở xác anh về Saigon và khuyên chúng tôi cứ chờ ở nhà xác bệnh viện Cộng Hòa, nhưng chúng tôi không thể chờ, trên taxi hai chị em cứ trông ngóng xem có chiếc xe camion quân đội nào chở xác anh về không? Đi mãi, đi mãi, Cần Giờ cách Saigon chẳng bao xa mà sao con đường chúng tôi đi hôm đó như dài dằng dặc. Khi chúng tôi sắp tới Cần Giờ thì thấy một chiếc xe quân đội trên có một quan tài phủ quốc kỳ, chị Thu tôi gào lên “anh ơi, có phải anh đó không”. Chúng tôi ra hiệu cho chiếc xe ngừng lại và cùng nhau bỏ xe taxi, khó khăn trèo lên xe camion quân đội với sự giúp đỡ của vài người lính Hải Quân, có lẽ là thuộc cấp của anh. Chị đòi mở nắp quan tài ra xem mặt anh nhưng người ta không cho, nói phải về đến nhà xác mới được đó là lệnh cấp trên. Chúng tôi ngồi trên xe, hứng trọn hơi nóng của mùa hè Saigon vì chẳng có gì che chắn, chị ôm chiếc quan tài anh như một vật báu sắp tuột khỏi vòng tay mình. Chiếc xe lao đi vun vút, gió đôi lúc tốc mạnh làm lá cờ phủ trên quan tài phất lên phầm phập như sắp sửa bị cuốn bay theo sức gió. Chúng tôi phải dùng tay chận hai mép cờ phủ hai đầu quan tài anh cho gió khỏi bật lên.

Rồi sau những than khóc của người thân và gia đình, anh cũng được lau chùi sạch sẽ để mặc lên người bộ quân phục sĩ quan Hải Quân trắng bóc, bộ quân phục đẹp mà mọi ngày tôi rất yêu thích sao hôm nay trông đến rợn người. Tôi không dám nhìn kỹ khi chị và mọi người giúp tẩm liệm anh, hình như một miếng bông gòn thật to đã được phủ lên ngực anh để tránh máu không thấm ra ngoài chiếc áo Hải Quân trắng. Mợ Năm tôi khóc ngất bên quan tài đứa con trai duy nhất của bà, đó là đứa con duy nhất bà có với bố tôi dù sau này bà cũng lập gia đình khác nhưng không có con thêm nữa.

Anh Chính được quàn tại chùa Vĩnh Nghiêm vì nhà anh ở tận Khánh Hội quá xa cho mọi người thăm viếng, cả gia đình mang một màu tang trắng xóa, hai thằng bé con anh vẫn bi bô đùa giỡn và đòi ăn, chẳng biết rằng cuôc đời chúng từ đây sẽ bước sang trang khác. Mới tết vừa qua thôi, anh còn mang hai cháu đến chơi và khoe rằng hai thằng con trai đã đủ “vốn”, bây giờ chờ cho hai đứa hơi lớn lớn anh sẽ kiếm thêm một cháu gái cho đủ nếp tẻ. Mới đây thôi, anh còn bàn với chị chuyện xây lại căn nhà cho khang trang, làm một góc vui chơi cho các con…thế mà tất cả đã sụp đổ bởi một họng súng vô tình.

Sau những cuộc thăm viếng của người quen, của các anh bạn cùng khóa 17 Hải Quân, ngày thứ hai vị phó Đề Đốc Hải Quân cùng một đội quân nhạc của binh chủng Hải Quân ghé chùa để làm lễ truy điệu anh. Tất cả mọi người đều mặc trang phục trắng toát trang trọng, những lời nói ghi nhận công trạng vì nước vì dân, lời chia buồn sâu sắc tới gia đình và sau cùng là lễ thăng bậc anh lên Thiếu Tá. Tất cả những trân trọng đó có đáng gì để đổi lấy mạng sống của một người đàn ông đang tràn đầy sức sống, đang hạnh phúc cùng vợ trẻ và con thơ trong ngôi nhà nhỏ, chúng tôi đâu cần những thứ đó, chỉ cần trả lại người con, người chồng, người anh, người cha mà chúng tôi hằng yêu dấu về lại với gia đình.

Ngày tiễn anh ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, cả đoàn người đông đúc, hầu như rất đông bạn bè của anh có mặt. Chị dâu tôi thuê chiếc xe tang 4 ngựa thật đẹp để tiễn đưa anh về cõi vĩnh hằng, tôi gặp lại bao nhiêu bạn bè của anh, những người ngày nào từng vui vẻ ghé nhà tôi chơi cùng anh, vậy mà giờ đây ai cũng còn đó, chỉ anh tôi là thành một thần xác vô hồn. Những tiếng vó ngựa gõ nhịp nhàng trên con đường nhựa trong một buổi trưa tiễn đưa anh tôi về nơi an nghỉ cuối cùng nghe sao xót xa lạ thường, hàng người hiếu kỳ hai bên đường xì xào bàn tán và tỏ lòng xót thương khi thấy di ảnh quá trẻ của anh. Hai đứa bé đều được bế trên tay bởi người thân lầm lũi đi theo chiếc xe tang, chị dâu tôi đang rũ rượi gào khóc cố bám lấy cái quan tài chứa thân xác vô hồn của anh vì chỉ vài giờ nữa thôi là muôn đời không còn nhìn thấy người chồng yêu dấu của mình. Nỗi đau đớn như dâng cao hơn khi chị gặp lại những người bạn cùng khóa 17 với anh, họ an ủi chị, ôm hôn những đứa con bé bỏng của anh, không biết họ có nghĩ rằng với cuộc chiến tiếp diễn như hiện nay một ngày nào đó vô tình họ cũng trở thành một trong những người nằm xuống như anh tôi không? chưa bao giờ tôi thấy cuộc chiến phi lý như vậy, người Việt giết lẫn nhau, cho ai và vì ai? Trả lại anh tôi cho tôi ông trời ơi, ông đất ơi….

Những ngày sau đám tang anh, hầu như ngày nào tan học về tôi cũng ghé nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi để thăm mộ anh và đốt cho anh một nén nhang. Tôi ghé đều đặn đến nỗi những người gác nghĩa trang nhầm tưởng tôi là người yêu của anh, mặc kệ tôi muốn anh tôi không cảm thấy cô đơn khi nằm xuống.

Rồi nỗi đau nào cũng dần phai mờ theo năm tháng, nếu không làm sao con người có thể tồn tại được trước những khổ đau. Chị dâu tôi phải gắng gượng dậy để bắt đầu cuộc sống của người góa phụ trẻ, không có người đàn ông bên cạnh, chị vừa làm việc như con thoi để kiếm sống vừa đưa đón nuôi dậy hai đứa con trai nên người.

Ngày 29/4/1975, gần hai năm sau ngày anh tôi mất, chị đã can đảm một nách hai con, lên tầu ở khu Khánh Hội để ra Đệ Thất Hạm Đội ngoài khơi Vũng Tàu thoát khỏi Việt Nam, có lẽ chị đã tiên đoán được cái số phần sẽ giành cho hai đứa con trai chị với lý lịch “đen”, có bố là cấp tá quân đội. Chị ra đi không hề báo cho mẹ chồng ruột chị lẫn gia đình tôi, chúng tôi chỉ biết chị đã rời khỏi nhà và lên tàu cùng đoàn người di tản nhưng không biết mẹ con chị sống chết ra sao.

Rồi nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi nơi an nghỉ của ông anh tôi cũng bị giải tán để xây dựng công viên, nghe tin này chị vội liên lạc nhờ người đến di dời xương cốt của anh về chùa. Từ đó chúng tôi liên lạc lại được với chị và biết được một câu chuyện thương tâm về chị ở nước ngoài, hình như cái vận xấu nó vẫn không buông tha chị, một người đán bà nhỏ bé, mảnh mai yếu đuối.

Chị viết một bức thư cho bố mẹ tôi mà không hề biết rằng bố tôi vì buồn khổ đã mất năm 1976
“Thưa cậu mợ,
Con và các cháu bây giờ hiện đang ở tiểu bang California, Mỹ. Các cháu đều khỏe mạnh và giống y hệt anh Chính, cậu mợ xem hình con gởi kèm, chúng nó không khác gì anh ngày xưa từ cặp mắt, cái miệng cười cho đến dáng đi đứng cậu mợ ạ. Câu mợ cũng thấy trong hình có hai cháu gái nữa, đó là hai đứa con gái của con với người chồng sau. Con viết thư này để xin tạ lỗi với cậu mợ vì đã không ở vậy để thờ anh Chính con, nhưng đất lạ quê người, hai đứa con còn nhỏ dại, con phải nương tựa vào người ta mà sống. Đã từ lâu con muốn viết thư thăm cậu mợ và các em nhưng vẫn ngần ngại, hôm nay con mạnh dạn viết thư này vì biết rằng cậu mợ và các em sẽ vui nếu biết con và các cháu vẫn khỏe và có cuộc sống ổn định ở xứ người. Con vẫn nhớ ơn cậu mợ là người đã đứng ra nuôi dưỡng và gầy dựng cho anh Chính con, một lần nữa xin cậu mợ nhận nơi đây lòng biết ơn và tạ lỗi của con. Nếu cậu mợ không giận con xin cậu mợ và các em hồi âm cho con theo địa chỉ trên thư này, con mong tin cậu mợ và các em”


Nhận được bức thư của chị tôi vui mừng khôn xiết, chị ơi, chị cũng phải nghĩ đến hạnh phúc riêng của mình, có ai độc ác thì mới bắt chị phải ở vậy nuôi con . Thế kỷ này là thế kỷ 21 rồi đâu phải là thời xưa của ông bà mình mà chị vẫn còn suy nghĩ “thiển cận” như vậy. Tôi vui vì ít nhất chị tôi cũng tìm được người đàn ông để chia xẻ cuộc đời còn lại của mình.

Rồi thư qua thư lại, càng về sau tôi càng thấy chị ít nói về người đàn ông này, chỉ nhắc tới sự trưởng thành đỗ đạt của các con mình. Cuối cùng thì tôi cũng đặt chân đến Mỹ trong một chuyến công tác nước ngoài, việc đầu tiên tôi làm là lần theo địa chỉ để tìm gặp chị. Theo lời kể của chị, sau khi sang Mỹ, chị đã đi học ngay nghề tóc, sau một thời gian làm thợ cho một số tiệm, với vốn liếng dành dụm được chị giờ đã là chủ một tiệm làm tóc. Nhờ nghề này chị đã nuôi các con ăn học nên người, đứa con trai lớn nay đã gần 40 tuổi, làm Giám Đốc Tài Chính cho một công ty lớn của Mỹ. Đứa thứ nhì giống ông anh tôi như đúc là “freelance photographer”, chị vẫn than phiền với tôi là cháu không chịu học đại học mà chỉ thích làm những gì cháu thích, cú điện thoại mới nhất chị gọi cho tôi, vui mừng báo tin cháu đang ở Cambodia, có rất nhiều hợp đồng với các cty đa quốc gia làm không xuể. Còn hai đứa con gái với người đàn ông chị gặp sau này thì học nghề gõ đầu trẻ, một cháu đã được bầu chọn là “Teacher of the Year” của một trường trung học khá danh tiếng ở Mỹ.

Khi hỏi về người đàn ông mới của chị, bố của hai đứa con gái, chị tôi khóc và nói “hết rồi em ạ!”, tôi muốn ôm chầm lấy chị để chia xẻ những nỗi đau mà chị đã gặp trong đời nhưng tôi phải làm ra vẻ bình tĩnh để ngăn cho chị khỏi quá xúc động. Chị kể tôi nghe, ngày đó mới sang Mỹ năm 1975 đâu phải như bây giờ có nhiều người VN, cái gì cũng phải tự học và tự tìm hiểu, tiếng Mỹ của chị thì chẳng giỏi lắm nhưng chị cũng lo chạy đây chạy đó xin trợ cấp của chính phủ nuôi con. Trong tình thế đó, chị gặp anh, một người cũng trong quân đội cũ, di tản một mình sang Mỹ không kịp mang theo vợ con. Chị nói anh đã giúp đỡ chị rất nhiều trong cuộc sống và trong việc nuôi dậy các cháu nên người, việc gì đến cũng phải đến, trong những ngày cô đơn trên đất khách quê người, anh và chị đã nương nhau mà sống và kết quả là họ có với nhau hai người con gái. Anh rất tử tế với chị nhưng gánh nặng vợ con còn kẹt lại VN luôn làm anh trăn trở. Anh đi làm dành dụm tiền gởi về nuôi vợ con trong những ngày khốn khó đó, còn chị cũng chung tay góp sức với anh. Ngày anh báo tin chính phủ Mỹ cho người di tản bảo lãnh người thân sang Mỹ, anh đã nói với chị ý định muốn làm giấy bảo lãnh cho vợ con sang cho có tương lai. Chị nghe xong thì lặng người, nhưng chị không thể vì quyền lợi của riêng mình mà khuyên anh từ bỏ việc bảo lãnh vợ con anh, những người đang sống khốn khổ ở Việt Nam.

Rồi chuyện gì phải đến cũng đến, ngày vợ anh sang đến Mỹ, anh phải thú nhận tất cả, người đàn bà nào cũng ích kỷ và ghen tuông, vợ anh đã ra tối hậu thư cấm anh không được đến thăm chị và các đứa con chung nữa. Anh cũng cố đến thêm vài lần để thăm hai đứa con gái của mình, sau đó thì chính chị yêu cầu anh, vì sự yên ổn của cả hai bên, đừng ghé chị nữa. Từ đó chị sống một mình, ăn chay trường và nuôi dạy các con nên người.

Mỗi khi có dịp sang Mỹ, tôi lại được chị chở đi ăn cơm chay ngon tuyệt. Chị nói với tôi “em ơi bao giờ mình hết có tình cảm với đàn ông là lúc ấy mình mới thật sự thanh thản em a!”. Nhìn chị bây giờ thật thong dong, chị chẳng than vãn về cuộc đời mình, chẳng oán trách ông trời bắt chị phải hứng chịu nhiều trái ngang, và cũng chẳng trách móc người đàn ông đã có với chị hai đứa con gái. Bây giờ tâm hồn chị nhẹ nhàng như một bà tiên, không hờn giận, không oán trách vẫn ngày ngày lái xe đến tiệm tóc của mình để làm việc kiếm sống, được thêm đồng nào lại bù cho các con. Với mẹ chồng ruột chị, chị vẫn gởi tiền đều đều về nuôi cụ và vẫn hỏi thăm mỗi khi gặp tôi “em ơi, em về VN xem mợ Năm có khỏe không? Sao chị gởi tiền cho mợ mà chẳng thấy mợ nói gì, chẳng biết có nhận được không?. Thế đấy chồng chết đã gần 40 năm mà chị vẫn lo chăm sóc mẹ chồng vì biết bà hiện giờ bơ vơ vì chỉ có người con duy nhất đã mất.

Đêm nay, gần đến ngày giỗ anh Chính tôi, tôi đang tự hỏi các cuộc chiến đang diễn ra trên thế giới có lại sắp vô tình cướp đi người thân của bao nhiêu gia đình nữa? Có lại đẩy những người phụ nữ yếu đuối vào những hoàn cảnh éo le ngang trái? Tôi căm ghét những cuộc chiến đã mang lại nhiều mất mát cho con người, còn cuộc chiến nào đã mang anh tôi đi thật xa, mãi mãi….. dù đã mấy chục năm qua mà vẫn như một giấc chiêm bao chưa tỉnh dậy.

Saigon Oct 10th 2011

No comments:

Post a Comment