Thursday, 26 April 2012

NGÀY 30 THÁNG TƯ





Sáng nay trên đường đi tập yoga, cũng con đường Thống Nhất thân thương, con đường dẫn tới ngôi trường Trưng Vương kỷ niệm một thời áo trắng mộng mơ, mà hôm nay cờ xí ngập trời, những lá cờ nển đỏ với sao vàng hay búa liềm được giăng suốt con đường Thống Nhát từ Thảo Cầm Viên đến tận Dinh Độc Lập.  Chợt nhớ thế là lại sắp đến ngày 30/4, thấm thoát mà đã 37 năm, 37 năm đã trôi qua với bao thăng trầm của đất nước và của một đời người. 

Tôi vẫn nhớ như in ngày 30/4/1975, cái ngày lịch sử mà tâm hồn ngây thơ của một đứa con gái mới 24 tuổi, có chồng đang trong quân đội đã vui mừng như thế nào khi chỉ suy nghĩ đơn giản là chồng mình sẽ không còn bị đe dọa bởi thương tật hay chết chóc nữa.  Ngày ây tôi vui mừng khôn xiết với ý nghĩ đơn giản đó, bụng mang dạ chửa tháng cuối cùng đứa con gái đầu lòng và duy nhất nên tôi chẳng nghĩ đến chuyện chen lấn vào tòa đại sứ Mỹ lúc bấy giờ, ở rất gần nhà, để tìm cách thoát ra nước ngoài.  Suy nghĩ của tôi lúc bấy giờ chỉ là anh trai tôi và chồng tôi sẽ được trở về sum họp với gia đình sau khi bị tổng động viên vào mùa hè đỏ lửa 1972, con mình sinh ra sẽ không sợ mồ côi, thà là sum họp cùng nhau rồi có mắm ăn mắm, có muối ăn muối, miễn còn nhìn thấy nhau.

Suy nghĩ đơn giản của tôi chỉ tồn tại được có vài ngày, bắt đầu có những chuyện lộn xộn xảy ra, một số người tìm cách vào các tòa nhà có người ngoại quốc ở để “hôi của”, họ khiêng ra đủ thứ không trừ thứ gì từ giường tủ bàn ghế tới nồi niêu xong chảo, chén dĩa.  Một số phạm nhân hình sự, nhân những ngày hỗn loạn không còn ngưới cai ngục, đã phá ngục tràn ra lang thang trên đường phố gây ra bao nhiêu chuyện cướp bóc, trấn lột.  May mắn là mẹ tôi đã chuẩn bị đầy đủ đồ dùng cho việc sinh nở của tôi nếu không lúc đấy chắc cũng khó mua vì xã hội nhốn nháo, kẻ đi người ở.

Ngày đi sinh con gái, cũng may có nhà bảo sinh tư nổi tiếng Đức Huệ ở đường Cao Thắng vẫn còn mở cửa nên tôi vẫn được chăm sóc khá tốt.  Đứa con dù nằm ngược những do xương hông to nên tôi thoát được việc sinh mổ. dù vẫn còn đau đớn sau cơn vượt cạn, tôi vẫn cảm thấy hạnh phúc khi có cha mẹ, chồng và anh em bên cạnh, chẳng bù lúc trước cứ suy nghĩ sợ khi sinh con không biết chồng có được về phép hay có còn sống trên cõi đời này để chứng kiến con mình ra đời hay không?

Rồi thì đến ngày đầy tháng con và cũng là ngày chồng tôi lên đường “học tập”, theo như thông báo.  Buổi sáng bà nội sang cúng đầy tháng cho cháu, bên nội và bên ngoại xúm xít quanh đứa cháu gái xinh xắn, ông bố cháu cũng vui mừng tuyên bố “sau khi bố đi học vài tuần về thì bố sẽ là người dạy dỗ con và nếu con hư bố sẽ đét đít chứ chẳng cưng chiều đâu đấy nhé”.  Con bé con nằm trong nôi, chẳng hiểu gì nhưng thỉnh thoảng vẫn nhoẻn miệng cười, những nụ cười thật ngây thơ thánh thiện, nó đâu ngờ rằng kể từ ngày hôm đó, cuộc đời nó cũng nổi trôi theo số phận của bố và mẹ mình.

Theo như thông báo thì sĩ quan cấp úy chỉ phải đi có vài tuần nên chồng tôi vơ vội vài bộ quần áo vào ba lô, bàn chải và kem đánh răng, vài cuốn truyện chuẩn bị cho hành trang lên đường.  Cả nhà ai cũng không ngờ rằng, trừ lần ra đi mãi mãi của một đời người mà ai cũng sẽ phải trải qua, đó là lần xa nhà lâu nhất của chồng tôi, một thanh niên mới có 25 tuổi đầu.  Đứa con cứ lớn dần theo ngày tháng mà tin tức chồng vẫn biệt tăm, đau khổ thì có đau khổ nhưng có lẽ vì đó là tâm trạng chung của xã hội lúc bấy giờ, của các gia đình có người thân đi học tập, nên hình như cái đau khổ đó cùng được nhiều người chia xẻ nên nhẹ bớt đi chăng?

Sau khi đi được vài tháng thì chồng tôi có thư về, nói rằng anh đang “hoc tập” trong một trại tập trung, được đối xử “tử tế”, em cứ yên tâm nuôi con và chờ ngày anh về.  Cả nhà vui mừng khôn xiết khi nhận thư anh.  Tuy nhiên khi đọc thư anh tôi đoán đã có một “chỉ đạo” chung cho các thư gởi về và tôi chắc chắn rằng các bức thư đều na ná giống nhau và đều bị kiểm duyệt trước khi được gởi đi.  Trong khi đó bố tôi ngày ngày vẫn bế đứa cháu gái ra đứng đầu đường nói rằng “đi đón bố mày về con ơi”, nhưng ngày về đâu ai ngờ rằng vẫn còn quá xa, bố tôi đã mất sau đó vài tháng khi con gái tôi vừa tròn một tuổi và phải đến 8 năm sau nữa chồng tôi mới được trở về sum họp cùng gia đình.

Bố tôi lúc đó đang làm Phó Giám Đốc cho một cty của Pháp (Societe D’oxygene D’acetylene) bên Khánh Hội, lương bổng khá cao nhưng từ đây bắt đầu quá trình quốc hữu hóa (nationalization) nên chỉ lãnh lương rất ít theo chế độ mới.  Tiền tiết kiệm cả đời bỏ trong ngân hàng Việt Nam Thương Tín thì mất gần hết.  Những ngày lộn xộn mẹ tôi đã tìm cách đến rút tiền ra chấp nhận không lấy lãi, nhưng ngân hàng không cho mà chỉ tư vấn với mẹ tôi là nên làm đơn xin vay tiền để lấy ra được phần nào hay phần ấy, nhưng dù có làm thế thì cũng chỉ lấy ra được khoảng 1/5 số tiền tiết kiệm còn 4/5 còn lại coi như tan theo mây khói.  Buồn vì công ăn việc làm đang ổn định, tiền bạc đang rủng rỉnh bỗng chốc tiêu tan, bố tôi lâm trọng bệnh và mất sau đó một năm.  Bố đã không sống để nhìn các con lập gia đình, sinh con mà chỉ kịp nhìn đứa cháu đầu tiên là con gái tôi và chơi với cháu cho đến khi nó vừa thôi nôi.  Bố tôi mất cũng có nghĩa là tiến trình bảo lãnh của chính phủ Pháp cho gia đình chúng tôi sang Pháp định cư coi nhu chấm dứt, phải chăng đó là phần số.  Trước khi mất bố đã trối trăn với các con “giờ đây việc đi Pháp chắc không thể thực hiện được rồi vì bố đã mất, nhưng dù trong hoàn cảnh nào các con cũng phải lo học hành đến nơi đến chốn và lấy bằng đại học của chế độ này thì mới mong tồn tại được”. 

Vâng lời bố, vài tháng sau ngày đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng và khi con gái chỉ mới chập chững biết đi là tôi đã mang cháu đi gởi, khi thì ông bà nội, khi thì ông bà ngoại, để lại cắp sách đến Đại Học Kinh Tế hầu kiếm thêm mảnh bằng hộ thân dù trong thâm tâm tôi cho đến giờ vẫn chẳng thấy tâm phục khẩu phục với tấm bằng này, điều mà tôi trân trọng vẫn là tấm bẳng Cử nhân luật tôi đã đạt trước 1975. 

Một mặt tôi tự hỏi việc bố mất đi khi chưa được hưởng gì từ các con có là một thiệt thòi cho ông? Khi đó bố mới 60 tuổi, cái tuổi mà bây giờ tôi đã tới và vẫn thấy còn tha thiết sống.  Mặt khác tôi lại tự an ủi rằng thôi thà cho bố mất sớm vì bố đã quen với sự sung túc còn hơn là để bố phải trải qua những ngày khốn khó ăn bo bo, cơm độn mì… thiếu thốn đủ bề thì cũng tội nghiệp cho ông.

Rồi đến giai đoạn “ngăn sông cách chợ”, hàng hóa từ tỉnh này không được phép mang sang tỉnh khác dù chỉ vài kg khô mực hay 5kg gạo  Cuộc sống vô cùng khốn khó, ra đường không dám đeo đồng hô hay kính mát tốt vì chắc chắn sẽ bị giật mất (thời nay thì không còn ai giật đồng hồ hay kính mát nữa, mà chỉ giật vòng vàng), tôi thậm chí có một cái nón vải jean thật đẹp, thế mà một hôm đang đạp xe đạp ngang qua chợ Tân Định mua sữa cho con, cũng bị một thằng bé từ trong ngõ hẻm chạy ra giật mất vì lúc đó cái gì cũng bán được. 

Đồ đạc trong nhà dần dần đội nó ra đi, phần thì mẹ tôi cho họ hàng từ ngoài Bắc vào, cái gì đối với họ cũng là quý, từ chiếc quạt trần đến chiếc xe đạp mini tôi vẫn thường dùng để đạp chơi quanh nhà.  Khi đó mẹ tôi vui mừng lắm vì gặp lại họ hàng còn kẹt lại miền Bắc, thấy họ thèm muốn đủ thứ nên mẹ cứ ra sức cho chẳng tiếc gì, 10 năm sau khi đã giầu có, họ hầu như đã quên mất gia đình tôi trừ một ông bác họ duy nhất còn ghé thăm và cho những đồ “nhu yếu phẩm” như bột ngọt, diêm quẹt, sữa ông Thọ … những thứ hồi ấy cũng được coi là hết sức quý hiếm.  Tiếp đến thì những vật dụng trong nhà, từ chiếc xe hơi của bố đến những thứ nhỏ nhất như chén đĩa Nhật và ngay cả 3 bức tượng Phước Lộc Thọ cũng được mang ra chợ trời bán để lấy tiền đi chợ.  Tôi nghĩ cứ ngồi ăn không thế này núi cũng lở nên tìm cách đi buôn chuyến,  khi thì ít kg gạo từ Long An, khi thì ít kg than từ Cần Đước, nhưng hầu như lần nào cũng như lần ấy đều bị dân quân tự vệ bắt và tịch thu hết hàng, xôi hỏng bỏng không tôi biết mình chẳng có số đi buôn, thôi thì đành chờ chết khi hết tiền vậy. 

Những ngày đi thăm chồng trong trại cải tạo là những ngày cực khổ nhất, thời đó, đi sang địa phận khác là phải xin giấy đi đường.  Mỗi lần xin đi thăm nuôi phải lên phường xin giấy phép, gom góp tiền bạc, mua ít cá khô, tôm khô, sữa đặc, làm chút chà bông, thịt kho và dắt đứa con gái nhỏ xíu lên thăm chồng.  Đang lúc khốn khó nhất còn gặp sui rủi, trong một lần ra phường xin giấy đi đường, tôi đã bị kê gian giả làm người trông xe trước cửa phường gạt mất chiếc xe đạp, sau khi làm giấy tờ xong, tôi ra lấy xe và bàng hoàng nhận ra cả người giữ xe lẫn chiếc xe đã không còn, thật đau đớn vì lúc ấy chiếc xe đạp là phương tiện thiết yếu để di chuyển.  Phương tiện đi thăm nuôi lúc bấy giờ cũng thô sơ, chúng tôi phải đăng ký trước với chủ xe ở chung cư Nguyễn Thiện Thuật và phải tập trung tại tư gia của họ trước 5g sáng để khởi hành.  Xe chạy bằng than, ì à ì ạch, đường thì gồ ghề nên người chúng tội cứ bị nẩy lên và đầu luôn va vào nóc xe.  Chồng tôi học tập ở khu vực Kà Tum, Bù Gia Mập, nhưng chị em chúng tôi vẫn gọi đùa là Kà Tưng vì đường xá gập gềnh, đó là may mắn lắm mới được ở đây vì thời tiết miền Nam tương đối dễ chịu không khắc nghiệt như miền Bắc.  Sau một thời gian anh bị chuyển sang trại Z30D Hàm Tân, Thuận Hải, tuy xa hơn một chút nhưng vẫn còn hơn là bị đi Bắc. 

Ngày thăm nuôi, mẹ tay xách nách mang, con còn nhỏ nhưng vừa lũn tũn bước đi vừa mang giúp mẹ nải chuối cho bố, đường đất đỏ trơn trượt ngã lên ngã xuống, cài hình ảnh tội nghiệp và đáng yêu đó của con gái, tôi không bao giờ quên được.  Những ngày sum họp vợ chồng, con cái trong trại cải tạo cũng làm chúng tôi quên đi phần nào những nhọc nhằn đời thường vì phần nào đươc chia xẻ, ít nhất là về mặt tinh thần, bởi những ông chồng đang vòng tù tội.  Các anh trong lúc rỗi rảnh đã tìm kiếm những mảnh nhôm máy bay hay bom còn sót lại trong rừng sau chiến tranh để làm nào là gương, lược, kẹp tóc… để tặng người yêu hay vợ mình.

 Sau một thời gian, những người học tập “tiến bộ” được phép cho vợ ở lại qua đêm cùng chồng.  Thời đó đã có một số chị sau khi gần gũi chồng nhưng không biết cách phòng tránh nên sau đó đã mang thai và để kỷ niệm sự ra đời của những đứa bé trong những hoàn cảnh hết sức ngậm ngùi, chúng đã được đặt tên theo những địa danh học tập.  Chúng tôi, những bà vợ có chồng học tập, đã kháo nhau phương pháp ngừa thai tốt nhất lúc bấy giờ là uông thuốc ký ninh, một công đôi việc, vừa ngừa được rốt sét nơi rừng thiêng nước độc,  vừa không bị cấn thai ngoài ý muốn.  

Tôi may mắn vì gia đình chồng giầu có nên chỉ phải lo phần nào việc tiếp tế cho chồng, còn thì gia đình bên chồng lo hết.  Tội nghiệp cho những chị một nách 5 con, vừa làm quần quật nuôi con, vừa lo kiếm tiền để dành thăm chồng, chưa bao giờ tôi thấy nể phục ý chí của những người đàn bà Việt Nam như vậy.  Tuy nhiên, cũng có một thiểu số sau những năm tháng oằn mình nuôi chồng nuôi con, đành nhắm mắt xuôi tay theo số phận, thay vì nhìn lũ con đói khát đi ăn xin, chấp nhận lấy chồng khác để tồn tại.  Nhiều người đã lên án gay gắt những người đàn bà này nhưng với tôi, những người cùng chung số phận nhưng may mắn hơn, hoàn toàn cảm thông cho những hoàn cảnh như vậy, thử hỏi trong chúng ta có ai nỡ nhìn con mình thiếu ăn thiếu mặc, dù lúc đó chuyện cơm áo chỉ dừng lại ở mức tối thiểu nhất. 

Những ngày lên trại cải tạo thăm chồng, tôi luôn đi qua một nghĩa trang giành chôn những anh yếu đuối đau bệnh không vượt qua được, hoặc những anh vì quá chán ngán cuộc sống gông cùm  không định hướng,  đã tự kết liễu đời mình bỏ lại người vợ và những đứa con thơ dại bơ vơ không biết rồi sẽ đi về đâu?.  Tôi đã nghe kể về những chuyện giải phẩu “sống” không thuốc mê hay tê, mổ ruột thừa, mổ mắt…… chỉ cần giăng mùng lên cho ruồi khỏi bâu vào vết thương, bốn bạn tù sẽ giữ tứ chi người bệnh và anh bác sĩ bất đắc dĩ cứ thế mà làm việc trong tiếng la thất thanh của người bệnh.  Nhưng thà như thế còn hơn là chết, cán bộ quản giáo VC ngày ấy còn chưa được chăm sóc y tế tốt, nói chi đến những người tù chính trị như các anh. 

Những buổi tối ở lại trong rừng lạnh lẽo, bên cạnh hơi ấm của chồng đã lâu không được gần gũi, mới cảm nhận được cái tình vợ chồng nồng nàn trong lúc khốn khó.  Ngày ấy, trong ánh đèn dầu lung linh của trại cải tạo trong rừng sâu, tôi đã nghĩ “sao những bà vợ lên thăm chồng trong hoàn cảnh tội nghiệp như vậy mà có thể nỡ bỏ rơi không lên nuôi chồng nữa?”, nhưng nói gì thì nói, mỗi người có những hoàn cảnh cuộc đời riêng biệt mà chỉ họ mới biết phải làm sao để sống còn.

Rồi thì sau những phút thăm nuôi, chúng tôi cũng phải trở lại thực tế để lo cơm áo gạo tiền, chuẩn bị cho cuộc thăm nuôi kế tiếp.  Từ rừng núi trở về thành phố, hai thế giới hoàn toàn cách biệt, chúng tôi lại lăn lộn vào kiếm sống để nuôi chồng nuôi con.  Tôi may mắn vẫn theo học đại học kinh tế với sự chu cấp của gia đình chồng và phần nào của mẹ tôi vì lúc ấy bố tôi đã mất. 

Những ngày chồng nằm trong trại cải tạo, mỗi năm người ta vẫn tưng bừng kỷ niệm “ngày lễ lớn”.  Khi bên ngoài người ta đang để nhạc và  loa tưng bừng để chào mừng ngày này cũng là lúc con người tôi muốn điên lên khi nghĩ đến hoàn cảnh của mình - “người thua cuộc”.  Và rồi những lúc bị trầm uất nặng nề như thế, tôi vẫn thường nhìn đứa con gái bé bỏng mà thương cho nó không biết bao giờ mới gặp lại cha, như một lẽ tự nhiên hai giòng nước mắt từ hai khóe mắt tuôn trào ra... 

Kể từ đây, mỗi sáng ở mọi khu phố, cứ sáng ra là loa phường khóm phát inh ỏi những thông tin về chế độ mới, về tem phiếu (coupon) đi mua thịt, mua vải… hồi ấy mỗi hộ gia đình mỗi tháng chỉ được mua ½ kg thịt heo theo giá chính thức thôi, công chức cũng thế, cho nên nếu có giỗ chạp thì phải mượn xuất của đồng nghiệp và nhịn ăn trả lại từ từ trong những tháng kế tiếp.  Xen lẫn với những thông tin đó là những bản “hùng ca” như Tiểu Đoàn 307, Bốn Anh Em Trên Một Chiếc Xe Tăng…. Từ đây “nhạc vàng” của chế độ cũ bị cấm hoàn toàn vì ủy mị, thôi thế là hết một thời mộng mơ lãng mạn.   Những bộ quần áo thời trang làm tôi mê hoặc một thời, giờ cũng hoàn toàn được xếp xó.  Lúc bấy giờ, chẳng ai  bảo ai,  càng ăn mặc đơn giản càng tốt và áo bà ba, quần “soir” hay “satin” đen đã thịnh hành trở lại. 

Ngày ấy ngoài việc học văn hóa, chúng tôi còn phải học những bài về chủ nghĩa Max-Lenin, thú thật chúng tôi chỉ học cho có để khỏi bị zero thôi chứ chẳng hiểu gì hết và cũng chẳng có hứng thú gì.  Thêm nữa, còn phải kèm theo “lao động xã hội chủ nghĩa”, tức là những buổi ra công trường đào đất khiêng gạch…..dù có con nhỏ tôi vẫn không được miễn trừ do đó việc bà mẹ chồng liên tục nhăn nhó về chuyện bỏ bê con bé là chuyện thường ngày.  Nhưng biết làm sao được, nếu không sẽ không đủ điểm ra trường.  .

Rồi cũng đến ngày ra trường Đại Học Kinh Tế, cùng với con các sĩ quan “ngụy” ngày xưa, tôi được chuyển về Cà Mau, miền tận cùng đất nước, để làm việc.  Mãi sau này với sự khóc lóc vật vã của bà mẹ tôi, ông bác họ, một người có chức vụ trong chế độ mới,  mới lo cho tôi về thành phố làm việc.  Tuy được ông lo như thế nhưng mỗi khi bác cháu gặp nhau, tôi cũng không ngớt tranh luận với ông và chỉ trích kịch liệt về việc bắt chồng tôi đi học tập mà không cho biết ngày về.  Với tôi, đó là điều tàn nhẫn nhất vì kẻ giết người cũng cần phải được tuyên án rõ ràng.

Những sĩ quan chế độ cũ cũng dần dần được tha về, nhưng riêng chồng tôi phải mãi đến 8 năm sau mới trở về.  Ngày anh được về, cả nhà và cả họ mừng rỡ, chuẩn bị tiệc tùng đón tiếp.  Cũng ngày anh về, con tôi chẳng tỏ chút vui mừng, hình như cái tình phụ tử do không ở gần nhau nên cũng chẳng mặn mòi.  Tuy nhiên ngày vui qua mau mà ngày buồn níu bước sau lưng,  những ngày hạnh phúc chẳng được bao lâu thì chồng tôi bắt đầu tỏ vẻ ghen tuông, tính tình hoàn toàn thay đổi, chỉ một việc nhỏ cũng làm anh nghi ngờ và trở nên nóng giận rồi thượng cẳng chân hạ cẳng tay với tôi.  Điều mà trước đó anh hoàn toàn không bao giờ làm.  Hình như những ngày tù tội đã biến anh, một con người hết lòng thương yêu vợ con, thành một con người hoàn toàn khác biệt: cọc cằn, thô lỗ.  Rốt cuộc vì không chịu nổi tính khí thất thường của anh, chúng tôi đã quyết định đường ai nấy đi.

Lúc ấy chưa có chương trình HO của chính phủ Mỹ cho những sĩ quan chế độ cũ, nhưng có lẽ vì buồn chán anh đã tìm cách vượt biên và may mắn đã thành công ngay lần vượt biển đầu tiên.  Cuộc sống khó khăn khi khởi đầu nơi xứ người rồi cũng qua đi, bây giờ anh cũng sở hữu một cơ sở làm ăn khá ở nước ngoài và tính tình lại trở lại như xưa.  Con gái tôi sau đó cũng được bố bảo lạnh đi Mỹ định cư năm cháu 18 tuổi.  Còn tôi một mình ở lại VN bươn chải kiếm sống, nhờ chút chữ nghĩa bố mẹ đầu tư cho, cuộc sống của tôi dần dần cũng ổn định và cuôi cùng thì con gái cũng làm giấy bảo lãnh mang mẹ sang Mỹ.  Làm lại cuộc đời nơi đất khách quê người khi tuổi đã ngoại ngũ tuần khiến tôi e ngại, tôi quyết định cứ giữ thẻ xanh và đi đi về về giữa Mỹ và Việt Nam. 

 Giờ đây 37 năm đã trôi qua, cái gia đình nhỏ 3 người của chúng tôi giờ đã chia làm 3 ngã đường, mỗi người mỗi nơi.  Cuộc sống ngày nay đã khá lên rất nhiều so với những ngày gian nan thiếu thốn xưa, vậy mà mỗi khi đến ngày 30 tháng tư, lòng tôi lại thấy bồn chồn không yên.  Bao thăng trầm đã xảy ra trong mấy chục năm qua, hờn oán trong tôi đã không còn, nhưng hối tiếc thì vẫn đong đầy, tôi vẫn tự hỏi nếu không có ngày 30/4 năm đó thì chắc hẳn tôi vẫn còn một gia đình nhỏ hạnh phúc, thôi thì đành hẹn lại kiếp sau…….

Saigon April 28th, 2012

No comments:

Post a Comment